Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Kiểm soát truy cập Wifi bằng Group Policy

Trong bài viết này chúng ta sẽ đi tìm hiểu phương pháp chặn người dùng truy cập vào một mạng Wifi khác, phương pháp tạo Group Policy bảo mật cho mạng Wifi và phương pháp Group Policy bảo vệ hệ thống mạng từ các mối đe dọa từ bên trong và bên ngoài mạng.

Hệ điều hành Windows không giới hạn quá trình cài đặt những điểm truy cập ảo. Một điểm truy cập là một thiết bị phần cứng được tích hợp sẵn trên hệ thống không được Windows kiểm soát. Tuy nhiên người dùng có thể tạo một cài đặt Group Policy chặn các máy trạm kết nối tới bất kì mạng Wifi nào ngoài mạng được chỉ định.

Sự cần thiết của việc sử dụng Group Policy để kiểm soát truy cập mạng Wifi

Những loại cài đặt có trong Group Policy thực hiện hai chức năng. Thứ nhất, chúng ngăn không cho người dùng cài đặt điểm truy cập ảo. Như vậy vấn đề phát sinh trong quá trình cài đặt một điểm truy cập ảo nếu bạn không được phép kết nối tới là gì? Cần nhớ rằng, tuy người dùng vẫn có thể cài đặt một điểm truy cập ảo và sử dụng điểm truy cập ảo này để kết nối tới mạng, nhưng trong những trường kowpj như vậy, những cài đặt trong Group Policy mà bạn đx triển khai sẽ không chặn được người dùng đó thực hiện kết nối bởi vì những cài đặt trong Group Policy đó chỉ có hiệu lực tại miền, trang hay cấp độ con của Active Directory. Vì hệ thống của người dùng chưa được kết nối tới Active Directory nên sẽ không có cài đặt nào của Group Policy được áp dụng. Tuy nhiên, bạn có thể cài đặt bảo mật mạng để chỉ cho phép thành viên miền có quyền truy cập vào tài nguyên mạng. Sự kết hợp của các yếu tố này sẽ chặn người dùng cài đặt các điểm truy cập ảo.

Những cài đặt này trong Group Policy cũng sẽ chặn người dùng kết nối ngẫu nhiên tới những mạng Wifi khác. Trong hầu hết các hệ thống người dùng có thể thấy những mạng Wifi của các công ty khác (trong một phạm vi nhất định), thì việc ngăn chặn người dùng kết nối tới những mạng này có hai lợi ích chính. Thứ nhất, nếu có thể chặn người dùng kết nối ngẫu nhiên tới một mạng ngoài công ty thì bạn có thể giảm thiểu những sự cố truy cập cho người dùng vì nếu kết nối sai mạng họ sẽ gặp phải những thông báo lỗi khi truy cập một số loại tài nguyên nhất định.
Thứ hai, quan trọng hơn, khi người dùng kết nối tới một mạng họ rất dễ bị tấn công bởi những mối đe dọa bảo mật có thể có trong mạng đó.

Tạo một Group Policy giới hạn truy cập

Tiếp theo chúng ta sẽ tạo một Group Policy giới hạn những người dùng được cho phép kết nối tới mạng Wifi. Trước tiên, bạn cần biết rằng những cài đặt trong Group Policy là để giới hạn khả năng truy cập tới những mạng Wifi không được tích hợp trong Windows. Để có thể sử dụng những cài đặt này bạn sẽ phải mở rộng lược đồ Active Directory.

Để mở rộng lược đồ Active Directory cho Wireless Group Policy của Windows Vista trước tiên chúng ta cần tạo file 802.11Schema.ldf. Thực hiện các thao tác sau:

  • Từ màn hình Windows, vào menu Start | Programs | Accessories | Notepad.
     
  • Lựa chọn nội dung file 802.11Schema.ldf ở phía dưới.
     
  • Copy vùng này rồi dán vào cửa sổ Notepad.
     
  • Vào File chọn Save As rồi lưu vào folder phù hợp. Nhập 802.11Schema.ldf cho trường File name, trong Save as type chọn All files, và lựa chọn ANSI cho Encoding. Lựa chọn xong nhấn Save.
Sau đó sử dụng công cụ Ldifde để mở rộng lược đồ Active Directory. Thực hiện các thao tác sau:
  • Nếu cần thiết, copy file 802.11Schema.ldf tới một folder trên Domain Controller sử dụng Windows Server 2003 hay Windows Server 2003 R2.
  • Trên Domain Controller này, vào Start, nhập cmd vào hộp Run rồi nhấn OK.
  • Mở folder chứa file 802.11Schema.ldf.
  • Tại cửa sổ Command Prompt, chạy lệnh sau:
ldifde -i -v -k -f 802.11Schema.ldf -c DC=X Dist_Name_of_AD_Domain
Trong đó, Dist_Name_of_AD_Domain là tên phân biệt của miền Active Directory có lược đồ đang được hiệu chỉnh. Ví dụ, nếu tên miền Active Directory là wcoast.microsoft.com, thì tên phân biệt sẽ là DC=wcoast,DC=microsoft,DC=com.
File 802.11Schema.ldf sử dụng chuỗi DC=X để hiển thị tên phân biệt của miền Active Directory. Tùy chọn –c thay thế chuỗi DC=X bằng chuỗi DC=X tương tự với tên miền Active Directory khi file 802.11Schema.ldf được import.
Ví dụ, nếu miền có tên là antoanthongtin.edu.vn thì cú pháp lệnh sẽ là:
ldifde -i -v -k -f 802.11Schema.ldf -c DC=X DC=antoanthongtin,DC=edu,DC=vn
Công cụ Ldifde.exe sử dụng chỉ dẫn trong file 802.11Schema.ldf hiệu chỉnh lược đồ Active Directory để chứa những giá trị và thuộc tính bổ sung cần thiết để lưu trữ những cải tiến cho các cài đặt của Wireless Group Policy được máy trạm Wireless của Windows Vista hỗ trợ.

Nội dung của file 802.11Schema.ldf như sau:

# -----------------------------------------------------------------------
# Copyright (c) 2006 Microsoft Corporation
#
# MODULE: 802.11Schema.ldf
# -----------------------------------------------------------------------
# -----------------------------------------------------------------------
# define schemas for these attributes:
#ms-net-ieee-80211-GP-PolicyGUID
#ms-net-ieee-80211-GP-PolicyData
#ms-net-ieee-80211-GP-PolicyReserved
# -----------------------------------------------------------------------
dn: CN=ms-net-ieee-80211-GP-PolicyGUID,CN=Schema,CN=Configuration,DC=X
changetype: ntdsSchemaAdd
objectClass: attributeSchema
ldapDisplayName: ms-net-ieee-80211-GP-PolicyGUID
adminDisplayName: ms-net-ieee-80211-GP-PolicyGUID
adminDescription: This attribute contains a GUID which identifies a specific 802.11 group policy object on the domain.
attributeId: 1.2.840.113556.1.4.1951
attributeSyntax: 2.5.5.12
omSyntax: 64
isSingleValued: TRUE
systemOnly: FALSE
searchFlags: 0
rangeUpper: 64
schemaIdGuid:: YnBpNa8ei0SsHjiOC+T97g==
showInAdvancedViewOnly: TRUE
systemFlags: 16
dn: CN=ms-net-ieee-80211-GP-PolicyData,CN=Schema,CN=Configuration,DC=X
changetype: ntdsSchemaAdd
objectClass: attributeSchema
ldapDisplayName: ms-net-ieee-80211-GP-PolicyData
adminDisplayName: ms-net-ieee-80211-GP-PolicyData
adminDescription: This attribute contains all of the settings and data which comprise a group policy configuration for 802.11 wireless networks.
attributeId: 1.2.840.113556.1.4.1952
attributeSyntax: 2.5.5.12
omSyntax: 64
isSingleValued: TRUE
systemOnly: FALSE
searchFlags: 0
rangeUpper: 4194304
schemaIdGuid:: pZUUnHZNjkaZHhQzsKZ4VQ==
showInAdvancedViewOnly: TRUE
systemFlags: 16
dn: CN=ms-net-ieee-80211-GP-PolicyReserved,CN=Schema,CN=Configuration,DC=X
changetype: ntdsSchemaAdd
objectClass: attributeSchema
ldapDisplayName: ms-net-ieee-80211-GP-PolicyReserved
adminDisplayName: ms-net-ieee-80211-GP-PolicyReserved
adminDescription: Reserved for future use
attributeId: 1.2.840.113556.1.4.1953
attributeSyntax: 2.5.5.10
omSyntax: 4
isSingleValued: TRUE
systemOnly: FALSE
searchFlags: 0
rangeUpper: 4194304
schemaIdGuid:: LsZpD44I9U+lOukjzsB8Cg==
showInAdvancedViewOnly: TRUE
systemFlags: 16
# -----------------------------------------------------------------------
# Reload the schema cache to pick up altered classes and attributes
# -----------------------------------------------------------------------
dn:
changetype: ntdsSchemaModify
add: schemaUpdateNow
schemaUpdateNow: 1
-
# -----------------------------------------------------------------------
# define schemas for the parent class:
#ms-net-ieee-80211-GroupPolicy
# -----------------------------------------------------------------------
dn: CN=ms-net-ieee-80211-GroupPolicy,CN=Schema,CN=Configuration,DC=X
changetype: ntdsSchemaAdd
objectClass: classSchema
ldapDisplayName: ms-net-ieee-80211-GroupPolicy
adminDisplayName: ms-net-ieee-80211-GroupPolicy
adminDescription: This class represents an 802.11 wireless network group policy object. This class contains identifiers and configuration data relevant to an 802.11 wireless network.
governsId: 1.2.840.113556.1.5.251
objectClassCategory: 1
rdnAttId: 2.5.4.3
subClassOf: 2.5.6.0
systemMayContain: 1.2.840.113556.1.4.1953
systemMayContain: 1.2.840.113556.1.4.1952
systemMayContain: 1.2.840.113556.1.4.1951
systemPossSuperiors: 1.2.840.113556.1.3.30
systemPossSuperiors: 1.2.840.113556.1.3.23
systemPossSuperiors: 2.5.6.6
schemaIdGuid:: Yxi4HCK4eUOeol/3vcY4bQ==
defaultSecurityDescriptor: D:(A;;RPWPCRCCDCLCLORCWOWDSDDTSW;;;DA)(A;;RPWPCRCCDCLCLORCWOWDSDDTSW;;;SY)(A;;RPLCLORC;;;AU)
showInAdvancedViewOnly: TRUE
defaultHidingValue: TRUE
systemOnly: FALSE
defaultObjectCategory: CN=ms-net-ieee-80211-GroupPolicy,CN=Schema,CN=Configuration,DC=X
systemFlags: 16
# -----------------------------------------------------------------------
# Reload the schema cache to pick up altered classes and attributes
# -----------------------------------------------------------------------
dn:
changetype: ntdsSchemaModify
add: schemaUpdateNow
schemaUpdateNow: 1
Khi đã mở rộng lược đồ Active Directory, mở chính sách bảo mật miền, sau đó trên Group Policy Object Editor mở Computer Configuration | Windows Settings | Security Settings. Khi mở rộng Security Settings bạn sẽ thấy giờ đây nó đã chứa một node Wireless Network (IEE802.11) như trong hình 1.


Hình 1: Group Policy Object Editor cho phép hiệu chỉnh các cài đặt bảo mật Wifi.

Vì mặc định không có Wireless Policy nào tồn tại, nên chúng ta sẽ phải tạo một Group Policy. Bạn hãy phải chuột vào Wireless network (802.11) rồi chọn lệnh Create Wireless Network Policy từ menu ngữ cảnh. Sau đó Windows sẽ khởi chạy wizard Wireless Network Policy. Nhấn Next để bỏ qua trang Welcome của wizard này, tiếp theo bạn sẽ thấy một trang yêu cầu nhập tên và mô tả cho Policy đang tạo. Sau khi nhập xong nhấn Next rồi Finish. Giờ đây Windows sẽ mở trang thuộc tính của Policy vừa tạo.

Tại tab General của trang thuộc tính, bạn có thể kiểm tra những loại mạng Wifi mà máy trạm được phép kết nối tới, và có thể lựa chọn hộp chọn use Windows to automatically configure network settings for wireless clients (sử dụng Windows để cấu hình tự động các cài đặt mạng cho máy trạm Wifi).


Hình 2: Cấu hình mạng Wifi máy trạm được phép kết nối tới.

Tab Preferred Networks, trong hình 3, cho phép chỉ định danh sách những mạng ưu tiên mà bạn muốn hệ thống Windows kết nối tới chúng.


Hình 3: Lựa chọn mạng ưu tiên trong tab Preferred Networks.

Mọi cài đặt này có thể áp dụng cho những máy tính sử dụng hệ điều hành Windows XP. Tuy nhiên có một số cài đặt chỉ có thể áp dụng cho các máy trạm sử dụng Windows Vista và Windows Server 2008. Những cài đặt này cho phép bạn chỉ định chính xác những mạng Wifi mà máy trạm được phép truy cập. Bạn có thể truy cập vào những cài đặt dành riêng cho Vista bằng cách mở chính sách miền mặc định sử dụng một máy sử dụng Windows Vista hay Windows Server 2008.
Sưu tầm

Xác định hệ thống bị tấn công bằng các lệnh Windows

Các máy tính Windows là những máy tính bị tấn công nhiều nhất. Chính vì vậy mà Microsoft đã xây dựng rất nhiều công cụ trong hệ điều hành Windows để các quản trị viên và một số người dùng có thể phân tích nhằm xác định xem máy tính của họ hiện có bị thỏa hiệp hay không. Trong hướng dẫn gồm hai phần này, phần đầu tiên chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về 5 công cụ dòng lệnh hữu dụng trong Windows để thực hiện một hành động phân tích đó.
1. WMIC
Windows Management Instrumentation Command-line (WMIC) không chỉ đơn thuần là một lệnh mà có rất nhiều tính năng khác. Công cụ này có một giao diện dòng lệnh cho Windows Management Instrumentation API bên trong Windows. WMIC cho phép quản lý người dùng truy cập các thông tin chi tiết trên máy tính Windows, gồm có các thuộc tính chi tiết của hàng ngàn các thiết lập và đối tượng. WMIC được xây dựng bên trong Windows XP Professional, Windows 2003 và Windows Vista. Để sử dụng nó, người dùng phải khởi chạy chương trình bằng cách chạy lệnh WMIC, theo sau là phần mà người dùng quan tâm (thường được gọi là các alias bên trong hệ thống). Cho ví dụ, để biết về các quá trình đang chạy trên máy tính, người dùng có thể chạy lệnh:
C:\> wmic process
Phần đầu ra của lệnh này có vẻ khá khó đọc vì định không được chỉ định. Tuy nhiên với WMIC, đầu ra mà công cụ này cung cấp được định dạng hoàn toàn khác, trong đó phần "list full" sẽ hiển thị các thông tin chi tiết cho mỗi lĩnh vực mà người dùng quan tâm, còn phần "list brief" sẽ cung cấp một dòng đầu ra cho mỗi một mục báo cáo dưới sạng danh sách các mục, chẳng hạn như các quá trình đang chạy, các chương trình tự động khởi chạy và những chia sẻ hiện hữu.
Cho ví dụ, chúng ta có thể quan sát mọi quá trình đang chạy trên máy tính bằng cách chạy lệnh:
C:\> wmic process list brief
Lệnh trên sẽ hiển thị tên, ID của quá trình và quyền ưu tiên của mỗi quá trình đang chạy cũng như các thuộc tính khác. Để nhận thêm các thông tin chi tiết hơn, chạy lệnh:
C:\> wmic process list full
Lệnh này sẽ hiển thị tất cả các thông tin chi tiết, gồm có đường dẫn của file thực thi có liên kết với quá trình và lệnh triệu gọi dòng lệnh của nó. Khi nghiên cứu một máy tính có bị tiêm nhiễm hay không, quản trị viên cần phải xem xét từng quá trình để xác định xem các quá trình này có hợp lệ trên máy tính hay không, sau đó nghiên cứu các quá trình lạ hoặc không mong đợi bằng cách sử dụng các cỗ máy tìm kiếm.
Ngoài các alias về các quá trình, người dùng có thể thay thế startup để nhận danh sách các chương trình tự động khởi chạy trên máy tính, gồm có các chương trình khởi chạy khi hệ thống khởi động hoặc người dùng đăng nhập, đây là những chương trình được định nghĩa bởi một auto-start registry key hoặc thư mục:
C:\> wmic startup list full
Rất nhiều malware có thể tự động chạy trên máy tính bằng cách thêm một mục auto-start bên cạnh các mục hợp lệ khác có bên trong các công cụ antivirus hay các chương trình system tray. Người dùng có thể quan sát các thiết lập khác trên máy tính với WMIC bằng cách thay thế "startup" bằng "QFE" (cụm chữ cái viết tắt cho Quick Fix Engineering) để thấy được mức vá của một hệ thống, bằng "share"  để xem danh sách các file chia sẻ trên Windows hoặc bằng "useraccount" để thấy được các thiết lập tài khoản chi tiết của người dùng.
Một tùy chọn khác bên trong WMIC là khả năng chạy một lệnh để thu thập thông tin trên trên một chu kỳ nào đó bằng cách sử dụng cú pháp "/every:[N]" sau phần còn lại của lệnh WMIC. [N] ở đây là một số nguyên, chỉ thị rằng WMIC sẽ chạy lệnh trên cứ [N] giây một lần. Bằng cách đó, người dùng có thể tìm kiếm các thay đổi trong các thiết lập của hệ thống theo thời gian, cho phép khảo sát một cách kỹ lưỡng đầu ra. Sử dụng chức năng này để kéo toàn bộ các thông tin về quá trình trong 5 giây một lần, người dùng có thể chạy:
C:\> wmic process list brief /every:1
Nhấn CTRL+C sẽ dừng chu kỳ.
2. Lệnh net
Giới thiệu ở trên, WMIC là một lệnh tương đối mới, tuy nhiên còn có một số lệnh khác không phải là mới nhưng khá hữu dụng đó là lệnh "net". Các quản trị viên có thể sử dụng lệnh này để hiển thị tất cả các thông tin hữu dụng.
Cho ví dụ, lệnh "net user" sẽ hiển thị tất cả các tài khoản người dùng được định nghĩa nội bộ trên máy tính. Lệnh "net localgroup" sẽ hiển thị các nhóm, lệnh "net localgroup administrators" sẽ hiển thị thành viên của nhóm quản trị viên và lệnh "net start" hiển thị các dịch vụ đang chạy.
Các hacker thường đưa người dùng vào một hệ thống hoặc đặt các tài khoản của họ vào một nhóm quản trị viên, vì vậy chúng ta luôn phải kiểm tra đầu ra của các lệnh này để xem liệu hacker đã sửa đổi các tài khoản trên máy tính hay chưa. Thêm vào đó, một số hacker có thể tạo các dịch vụ xấu trên máy tính, vì vậy người dùng nên cần thận với chúng.
3. Openfiles
Nhiều quản trị viên Windows không quen với việc sử dụng các lệnh openfiles mạnh có trong Windows. Mặc dù vậy, như tên ngụ ý của nó, lệnh này sẽ hiển thị tất cả các file được mở trong máy tính, chỉ thị tên quá trình đang tương tác với mỗi file. Nó được xây dựng trong các phiên bản Windows đời mới, từ XP Pro đến Vista. Giống như lệnh lsof phổ biến cho Linux và Unix, nó cũng thể hiện cho các quản trị viên tất cả các file đang mở trên máy tính, cung cấp tên quá tình và đường dẫn hoàn chỉnh cho mỗi file. Tuy nhiên không giống như lsof, nó không cung cấp nhiều thông tin chi tiết, chẳng hạn như số ID của quá trình, số người dùng hoặc các thông tin khác.
Xem xét phân vùng thông tin mà nó thu thập được, bạn sẽ không hề ngạc nhiên rằng lệnh openfiles thực sự tiêu hao rất nhiều hiệu suất. Chính vì vậy, thông thường các quá trình có liên quan đến openfiles bị tắt mặc định, nghĩa là người dùng không thể kéo bất cứ dữ liệu nào từ lệnh này cho tới khi bật nó. Chức năng này có thể được kích hoạt bằng cách chạy lệnh:
C:\> openfiles /local on
Người dùng sẽ cần phải khởi động lại và khi hệ thống hoạt động trở lại, họ sẽ có thể chạy lệnh openfiles như dưới đây:
C:\> openfiles /query /v
Lệnh này sẽ hiển thị đầu ra một cách chi tiết, gồm có tài khoản người dùng mà quá trình cho một file mở đang chạy bên trong. Từ đó có thể nhận biết được malware gì đã được cài đặt, hoặc tấn công gì có thể đang được thực hiện trên máy tính, người dùng nên tìm kiếm các file dị thường hoặc các file không mong đợi, đặc biệt các file có liên quan đến những người dùng nội bộ không mong đợi trên máy tính.
Khi kết thúc với lệnh openfiles, chức năng tính toán của nó có thể được tắt bỏ và hệ thống sẽ trở lại với tình trạng hiệu suất bình thường bằng cách chạy lệnh dưới đây và khởi động lại máy tính:
C:\> openfiles /local off
4. Netstat
Lệnh netstat trong Windows có thể hiển thị hành vi mạng, tập trung vào TCP và UDP mặc định. Vì malware thường truyền thông trong toàn mạng, nên người dùng có thể tìm kiếm các kết nối không bình thường trong đầu ra của netstat, chạy lệnh dưới đây:
C:\> netstat -nao
Tùy chọn –n sẽ thông báo cho netstat hiển thị các số trong đầu ra của nó, trừ tên máy và giao thức mà thay vì đó sẽ hiển thị các địa chỉ IP và TCP hoặc số cổng UDP. –a chỉ thị hiển thị tất cả các kết nối và các cổng đang lắng nghe. Tùy chọn –o thông báo cho netstat hiển thị số processID của mỗi chương trình đang tương tác với cổng TCP hoặc UDP. Nếu thay vì TCP và UDP, bạn chỉ quan tâm đến ICMP, khi đó bạn có thể chạy lệnh netstat như dưới đây:
C:\> netstat –s –p icmp
Lệnh trên chỉ thị rằng nó sẽ trả về thống kê (-s) của giao thức ICMP. Mặc dù không thể hiện nhiều chi tiết bằng TCP và UDP nhưng người dùng có thể thấy được liệu máy tính có đang gửi lưu lượng ICMP không mong đợi trên mạng hay không. Tuy nhiên một số backdoor và một số malware khác có thể truyền thông bằng cách sử dụng tải trọng của các thư ICMP Echo.
Giống như WMIC, lệnh netstat cũng cho phép chúng ta chạy nó theo một chu kỳ lặp đi lặp lại. Tuy nhiên thay vì sử dụng cú pháp "/every:[N]" như WMIC, người dùng chỉ cần thêm sau lệnh triệu gọi netstat dấu cách và số nguyên. Như vậy, để liệt kê các cổng TCP và UDP đang sử dụng trên máy tính cứ sau 2 giây một lần, người dùng có thể chạy:
C:\> netstat –na 2
5. Find
Hầu hết các lệnh mà chúng tôi đã giới thiệu cho đến đây đều hiển thị rất nhiều đầu ra trên màn hình, điều này đôi khi làm khó người dùng trong việc quan sát toàn bộ để tìm ra một mục nào đó mà họ quan tâm. Tuy nhiên Windows có một công cụ khác có thể giúp bạn khắc phục điều này. Người dùng có thể tìm kiếm trong toàn bộ đầu ra của mỗi lệnh bằng cách sử dụng lệnh findstrfind trong Windows. Lệnh find sẽ tìm kiếm các chuỗi đơn giản, trong khi đó lệnh findstr sẽ hỗ trợ cho các từ ngữ thông thường, một cách phức tạp hơn để phân biệt các mẫu tìm kiếm. Do các từ ngữ thông thường được hỗ trợ bởi findstr vượt ra ngoài phạm vi của bài viết này, nên chúng tôi chỉ tập trung vào lệnh find. Mặc định lệnh find sẽ phân biệt giữa chữ hoa và chữ thường, tuy nhiên bằng cách sử dụng tùy chọn /i bạn có thể làm mất đi sự phân biệt này.
Lệnh find cũng có khả năng đếm. Được triệu gọi với lệnh /c, nó sẽ đếm số dòng của đầu ra gồm có chuỗi đã cho. Nếu người dùng muốn đếm số lượng dòng trong đầu ra của lệnh để biết được số lượng quá trình đang chạy, số lượng mục startup đang hiện diện, hoặc một loạt các hành động khác trên máy. Để đếm số dòng đầu ra, người dùng có thể dẫn đầu ra của họ qua find /c /v "". Lệnh này sẽ đếm (/c) số dòng trừ dòng trống.
Lúc này, với lệnh find, người dùng có thể quan sát đầu ra của mỗi một lệnh mà chúng tôi đã giới thiệu cho đến đây để tìm ra những điều thú vị riêng. Cho ví dụ, để xem thông tin mỗi giây về các quá trình cmd.exe đang chạy trên máy tính, bạn hãy đánh:
C:\> wmic process list brief /every:1 | find "cmd.exe"
Để đếm số file mở trên máy tính khi openfiles được kích hoạt, bạn chỉ cần đánh:
C:\> openfiles /query /v | find /c /v ""
Dù có đếm các mục theo một cách nào đi nữa, các bạn cần nhớ trừ đi số dòng được liên kết với header cột. Ví dụ, để xem với độ chính xác theo mỗi giây khi cổng TCP 2222 bắt đầu được sử dụng trên máy tính, cùng với process ID đang sử dụng trên cổng, chạy:
C:\> netstat –nao 1 | find "2222"
Nghiên cứu đầu ra
Với 5 công cụ này, người dùng có thể xử lý các thông tin về cấu hình, trạng thái bảo mật của mỗi một máy tính Windows. Mặc dù vậy để sử dụng mỗi lệnh trong việc nhận diện sự thỏa hiệp, người dùng cần phải so sánh các thiết lập hiện hành củ máy tính bị nghi ngờ với máy tính bình thường.
Có ba cách có thể thiết lập sự so sánh này. Đầu tiên, nếu người dùng là một “thợ săn” malware đã có kinh nghiệm thì anh ta có thể nhận biết về những gì đúng và những gì sai với máy tính, nhận ra những vấn đề không bình thường dựa trên kinh nghiệm. Cách thứ hai, so sánh này có thể được thực hiện với một máy không bị tiêm nhiễm nếu có. Nếu không có một máy tính “sạch”, người dùng có thể dựa vào tùy cách thứ ba – tìm kiếm các file, tên quá trình, tên file và số cổng cụ thể được nhận biết bởi các lệnh này và tìm kiếm chúng online nhằm xác định xem chúng có phải là các file thông thường cho máy tính và phần mềm mà nó đã cài đặt hay có liên quan tới một số loại malware.
Trong phần này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn 5 lệnh rất mạnh trong Windows. Trong phần tiếp theo của loạt bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp cho các bạn 5 lệnh hữu dụng khác từ dòng lệnh.
Theo QTM

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Tìm hiểu tấn công Null Session

Null Session, được gọi là IPC$ trên máy chủ nền tảng Windows, là một dạng kết nối nặc danh tới một mạng chia sẻ cho phép người dùng trong mạng truy cập tự do.

Tấn công Null Session đã xuất hiện kể từ khi Windows 2000 được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên, hình thức tấn công này không được các quản trị viên hệ thống chú ý khi áp dụng các biện pháp bảo mật mạng. Điều này có thể dẫn đến kết cục khôn lường vì tin tặc có thể sử dụng hình thức tấn công này để lấy mọi thông tin hữu dụng cần thiết để giành quyền truy cập từ xa vào hệ thống. Mặc dù không còn mới mẻ, nhưng tấn công Null Session vẫn phổ biến và nguy hiểm như những năm trước đây. Xét về một khía cạnh nào đó, mặc dù khả năng bảo mật của các hệ thống hiện đại không phải quá yếu nhưng khi thực hiện các cuộc thử nghiệm xâm nhập trên máy tính Windows thì kết quả cho thấy Null Session vẫn là một trong những hình thức cần lưu ý.
Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu cách thức hoạt động của tấn công Null Session và phương pháp ngăn chặn nó xảy ra trên hệ thống.

Phương thức hoạt động của Null Session

Một phiên truy cập từ xa được tạo lập khi người dùng đăng nhập từ xa vào một máy tính sử dụng một tên người dùng và mật khẩu có quyền truy cập vào tài nguyên hệ thống. Tiến trình đăng nhập này được thực hiện qua giao thức SMB (Server Message Block) và dịch vụ Windows Server. Những kết nối này hoàn toàn hợp pháp khi những thông tin đăng nhập chính xác được sử dụng.

Một Null Session xảy ra khi người dùng thực hiện kết nối tới một hệ thống Windows mà không sử dụng tên người dùng hay mật khẩu. Hình thức kết nối này không thể thực hiện trên bất kỳ hình thức chia sẻ Windows thông thường nào, tuy nhiên lại có thể thực hiện trên chia sẻ quản trị IPC (Interprocess Communication). Chia sẻ IPC được các tiến trình của Windows sử dụng (với tên người dùng là SYSTEM) để giao tiếp với các tiến trình khác qua mạng này. Chia sẻ IPC chỉ được giao thức SMB sử dụng.

Chia sẻ không yêu cầu thông tin đăng nhập IPC thường được sử dụng cho những chương trình giao tiếp với một chương trình khác, tuy nhiên không có gì đảm bảo rằng người dùng không thể kết nối tới một máy tính bằng kết nối IPC này. Kết nối IPC không chỉ cho phép truy cập không giới hạn vào máy tính, mà còn trao quyền truy cập vào tất cả các máy tính trên mạng, và đây là những gì mà tin tặc cần để xâm nhập hệ thống.

Phương thức tấn công sử dụng Null Session


Giờ đây chúng ta đã biết cách thức hoạt động của Null Session, tuy nhiên ‘liệu tin tặc có thể sử dụng hình thức tấn công này dễ dàng hay không?’ Câu trả lời là ‘khá dễ dàng’. Kết nối Null Session có thể được thiết lập trực tiếp từ một lệnh Windows mà không cần sử dụng công cụ bổ sung, đó chính là lệnh NET. Lệnh NET có thể thực hiện nhiều chức năng quản trị, khi sử dụng lệnh này chúng ta có thể tạo một kết nối tới một chia sẻ tiêu chuẩn trên máy chủ đích, tuy nhiên kết nối này sẽ thất bại do những thông tin đăng nhập không chính xác.



Hình 1: Kết nối thất bại vào một mạng chia sẻ sử dụng lệnh NET.

Khi sử dụng lệnh NET, chúng ta có thể thay đổi tên chia sẻ kết nối tới chia sẻ quản trị IPC$. Khi đó kết quả sẽ khả quan hơn.

 

Hình 2: Kết nối Null Session thành công với lệnh NET.

Lúc này, chúng ta đã thiết lập một kết nối Null Session tới máy tính nạn nhân. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có quyền truy cập quản trị trên máy tính này do đó chưa thể bắt đầu duyệt tìm ổ cứng hay lấy mật khẩu. Cần nhớ rằng, chia sẻ IPC được sử dụng để giao tiếp giữa các tiến trình, do đó quyền truy cập của chúng ta sẽ bị giới hạn xuống quyền truy cập của tên người dùng SYSTEM. Chúng ta có thể sử dụng lệnh NET để lấy nhiều thông tin hơn từ máy tính mục tiêu, tuy nhiên có nhiều công cụ tự động hóa sẽ thực hiện các công việc rắc rối này.

Trong ví dụ này, chúng ta sẽ sử dụng công cụ lấy thông tin từ Null Session có tên Enum. Enum là một tiện ích nền tảng dòng lệnh miễn phí có thể sử dụng để lấy tên người dùng, tên nhóm, thông tin hệ thống, … Một trong những thông tin quan trong nhất với tin tặc đó là danh sách người dùng trên hệ thống. Với danh sách này, chúng ta có thể tiến hành dự đoán mật khẩu và thậm chí áp dụng các biện pháp phá mật khẩu. Để lấy danh sách người dùng với Enum, hãy chạy lệnh sau:

 

Hình 3: Sử dụng công cụ Enum để lấy danh sách người dùng trên hệ thống.

Với danh sách người dùng trong tay, chúng ta có thể truy lục chính sách mật khẩu của hệ thống để có thể dễ dàng phá mật khẩu.

 

Hình 4: Sử dụng Enum để hiển thị chính sách mật khẩu của hệ thống.

Ngoài ra chúng ta có thể lấy danh sách các chia sẻ trên máy tính của nạn nhân.

 

Hình 5: Sử dụng Enum để hiển thị các chia sẻ trên một hệ thống.

Enum cung cấp một số tùy chọn khác có thể sử dụng để lấy những kiểu thông tin tương tự, thậm chí tích hợp cả một công cụ tấn công tra cứu cơ bản giúp bẻ mật khẩu dựa trên danh sách từ được người dùng cung cấp.

 

Hình 6: Danh sách tùy chọn của Enum.

Những tùy chọn này không thể lấy chính xác thông tin đăng nhập vào hệ thống, tuy nhiên đây là một bước đệm và là một thành phần chủ chốt để tin tặc giành được quyền truy cập vào máy tính của nạn nhân.

Phương pháp phòng vệ trước Null Session

Khi nghĩ đến tin tặc và các cuộc tấn công, có lẽ câu hỏi đầu tiên thường được nghĩ đến đó là ‘liệu hệ thống của chúng ta có điểm yếu hay không?’ Câu trả lời phụ thuộc vào hệ điều hành trên môi trường mạng. Nếu đang sử dụng hệ điều hành Windows XP, Windows Server 2003 hay Windows 2000, thì ở một mức độ nào đó câu trả lời là “có”. Hình thức tấn công này khó có thể thực hiện khi người dùng sử dụng các phiên bản hệ điều hành cao hơn, tuy nhiên Windows XP và Windows Server 2003 vẫn là những hệ điều hành được ưa chuộng nhất. Có một số phương pháp khác mà chúng ta có thể thực hiện để chặn Null Session.
 
Chặn Null Session trong Registry

Khả năng tương thích của những phần mềm hợp pháp cùng với thực tế rằng hầu hết doanh nhiệp phải gắn bó với các hệ điều hành cũ để thắt chặt ngân sách là hai lý do chính khiến máy trạm và máy chủ Windows 2000 vẫn tồn tại. Nếu vẫn sử dụng Windows 2000, chúng ta chỉ cần thực hiện một thay đổi nhỏ trong Registry là có thể chặn khả năng lấy thông tin sử dụng Null Session.

Khi truy cập vào Regedit và duyệt tìm tới key HKLM/System/CurrentControlSet/Control/LSA/RestrictAnonymous thì chúng ta có thể cấu hình 3 tùy chọn bao gồm:
  • 0 – Cài đặt mặc định. Truy cập Null Session không giới hạn.
     
  • 1 – Không những loại bỏ Null Session mà còn chặn hiển thị tên người dùng và các chia sẻ.
     
  • 2 – Loại bỏ mọi giá trị tới Null Session bằng cách chặn mọi truy cập.
Như chúng ta thấy, Null Session không thể bị loại bỏ hoàn toàn, tuy nhiên, khả năng truy cập của nó sẽ bị giới hạn nếu lựa chọn tùy chọn cài dặt là 2. Cần thận trọng khi cấu hình tùy chọn này trên máy chủ Windows 2000 vì có thể làm hỏng Clustering.

Trên Windows XP và Windows Server 2003, chúng ta có thể thực hiện tác vụ tương tự trong ba Registry Key:

HKLM\System\CurrentControlSet\Control\Lsa\RestrictAnonymous
  • 0 – Cài đặt mặc định. Null Session có thể được sử dụng để liệt kê các chia sẻ.
     
  • 1 – Null Session không thể liệt kê các chia sẻ.
HKLM\System\CurrentControlSet\Control\Lsa\RestrictAnonymousSAM
  • 0 – Null Session có thể liệt kê danh sách người dùng.
     
  • 1 – Cài đặt mặc định. Null Session không thể liệt kê danh sách người dùng.
HKLM\System\CurrentControlSet\Control\Lsa\EveryoneIncludesAnonymous
  • 0 – Cài đặt mặc định. Null Session không được trao đặc quyền.
     
  • 1 – Null Session được xem là một phần của nhóm người dùng (khá nguy hiểm và có thể cho phép truy cập chia sẻ).
 

Hình 7: Hiệu chỉnh key RestrictAnonymous trong Registry.

Trong hình 7, mặc định Windows XP chỉ cho phép liệt kê các chia sẻ bởi hàm mặc định. Đây là cài đặt bảo mật hơn so với cài đặt tương tự trong Windows 2000, tuy nhiên nó vẫn cung cấp thông tin cho một kẻ xâm nhập.

Chặn truy cập tại cấp độ mạng

Nếu không thể thực hiện các thay đổi trong các Registry Key được nhắc đến ở trên, thì chúng ta có thể chặn mọi truy cập với Windows Firewall hay Network Firewall. Tiến trình này có thể được thực hiện bằng cách chặn truy cập tới các cổng liên quan tới NetBIOS và SMB thông qua TCP/IP. Những cổng này bao gồm:
  • Cổng TCP 135.
     
  • Cổng UDP 137.
     
  • Cổng UDP 138.
     
  • Cổng UDP 139.
     
  • Cổng TCP và UDP 445.
Những cổng này được sử dụng cho mọi chức năng kết nối mạng của Windows, bao gồm chia sẻ File, in ấn qua mạng, Clustering, và quản trị từ xa.

Lưu ý: Tiến trình chặn truy cập tới cổng cần được cân nhắc kỹ trước khi thực hiện trên nhiều cổng.

Xác định Null Session với IDS

Nếu những thay đổi trong Registry hay Firewall loại bỏ chức năng của các ứng dụng mạng thì chúng ta phải sử dụng một phương pháp khác. Thay vì chặn thống kê qua Null Session, một trong những biện pháp hữu hiệu nhất đó là phát hiện ra tấn công Null Session một cách sớm nhất để có thể triển khai những biện pháp khắc phục kịp thời như khi thực hiện một sự kiện bảo mật mạng thông thường.

Nếu đang sử dụng Snort, một IDS/IPS (Hệ thống phát hiện và chặn xâm nhập mạng) phổ biến nhất hiện nay trong môi trường sản xuất, thì rule sau đây sẽ phát hiện thống kê Null Session:
alert tcp $EXTERNAL_NET any -> $HOME_NET 139 (msg:”NETBIOS NT NULL session”; flow:to_server.establshed;

content: ‘|00 00 00 00 57 00 69 00 6E 00 64 00 6F 00 77 00 73 00 20 00 4E 00 54 00 20 00 31 00 33 00 38 00 31|’; classtype:attempted-recon;)
Rule này sẽ không ngăn chặn các kết nối Null Session, tuy nhiên nó sẽ thông báo khi Null Session xảy ra.

Kết luận

Khái niệm Null Session không phải là một mối đe dọa mới, tuy nhiên nó luôn bị lãng quên và coi thường. Sử dụng hình thức tấn công Null Session, tin tặc có thể lấy thông tin từ hệ thống. Hiểu được cách thức vận hành của Null Session là một yêu cầu bắt buộc với những người đảm trách bảo mật cho các hệ thống trên mạng. (Theo Windows Security /QTM)
 

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Bảo vệ quyền riêng tư: Phòng chống / tránh Identity Theft

Khi bạn đang mua trực tuyến, đôi khi rất khó để biết được bạn đang giao dịch với một doanh nghiệp có uy tín, hợp pháp hay với những kẻ bán hàng trực tuyến lừa đảo. Hầu hết các chủ cửa hàng shop trực tuyến tập trung vào việc duy trì quyền riêng tư về dữ liệu thẻ tín dụng của họ. Điều này cũng khá tốt. Dẫu vậy, quyền riêng tư không chỉ là mối lo ngại duy nhất bạn có mỗi khi muốn mua sắm trực tuyến.
Identity theft – Ăn cắp dữ liệu cá nhân
Nguy hiểm: Bất kì khi nào bạn sử dụng thẻ tín dụng trực tuyến của mình, danh tính của bạn luôn ở trong tình trạng nguy hiểm. Các bè phái tội phạm được tổ chức tốt từ tất cả các nơi trên thế giới đều tổ chức các quá trình trích xuất thông tin chi tiết về cá nhân bạn từ tất cả các nơi, đặc biệt là các trang mua sắm trực tuyến. Những kẻ tấn công này có thể thu lượm hàng ngàn, thậm chí là hàng triệu thẻ tín dụng trong một lần xâm nhập. Đây là một vấn đề của 2 lý do.
Trước tiên, và hiển nhiên nhất là vấn đề việc bạn sử dụng thẻ tín dụng để mua tất cả các mẫu hàng hóa từ những nơi bạn chưa bao giờ tới. Thông thường, ngân hàng bảo vệ bạn khỏi những mua sắm lừa đảo như vậy. Tuy nhiên, vẫn rất phức tạp để thay đổi số tài khoản của bạn.
Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay, kẻ xấu vẫn cảm thấy không hài lòng với thẻ tín dụng. Thực tế, số thẻ tín dụng cũng không đáng là bao. Tuy nhiên, khi những con số này được kết hợp với một số thông tin khác – ví như địa chỉ và ngày sinh – những kẻ tấn công có thể lắp ráp hồ sơ ảo của thông tin cá nhân. Tội phạm nhận dạng có thể sử dụng thông tin đó vào thẻ bảo mật trong tên của bạn. Thẻ này thậm chí còn giá trị hơn nhiều so với thẻ tín dụng và bạn sẽ gặp khó khăn hơn nhiều cũng như tốn nhiều tiền hơn trong việc sửa chữa: Bảo vệ ngân hàng tập trung vào thẻ tín dụng. Chúng giúp ít hơn khi tiền được xuất trực tiếp từ tài khoản, qua thẻ debit hoặc cây rút tiền tự động.
Bảo vệ bản thân thế nào? Cách tốt nhất để chống lại nạn trộm cắp danh tính là bạn chỉ nên thực hiện giao dịch với các doanh nghiệp có uy tín. Áp dụng các kiểm tra dò tìm khi chọn một nhà bán lẻ trực tuyến. Trông chúng hợp pháp? Kiểm tra doanh nghiệp thật kỹ càng thông tin về họ trước khi bạn thực hiện giao dịch. Kiểm tra các feedback trên các trang diễn đàn có uy tín. Nói theo cách khác, bạn hãy tự kiểm tra thật kỹ trước khi điền thông tin thẻ tín dụng.
Bên cạnh đó, bạn cũng nên kiểm tra các chính sách về quyền cá nhân của nhà cung cấp. Điều này sẽ giúp bạn xác định được họ sẽ và không làm gì với thông tin của bạn. (Chú ý tới những chính sách có thay đổi, đặc biệt là khi một công ty thay đổi nhân sự). Bạn sẽ thấy ngạc nhiên trong việc có bao nhiêu nhà cung cấp trực tuyến bán email và địa chỉ của bạn cho các bên thứ 3. Tìm kiếm các chính sách về quyền riêng tư với các thuật ngữ như bên thứ 3, địa chỉ email hoặc thông tin nhận dạng cá nhân; điều này sẽ giúp bạn tìm ra được một doanh nghiệp trực tuyến lên kế hoạch sẽ làm gì với thông tin của bạn.
Giả sử bạn đang làm việc với một hãng nổi tiếng, vậy hãy chắc chắn rằng bạn đang ở trên trang chính xác của họ. Một tấn công lừa đảo hoặc tấn công làm đổi hướng truy cập mạng có thể dẫn bạn từ địa chỉ email hoặc các ddianj chie web khác tới một trang giả mạo (trông rất giống với trang thật). Một plug-in dành cho Firefox có tên LocationBar2 có thể giúp: Nó sẽ làm sáng tỏ việc bạn đang truy cập trang nào.
Bên cạnh đó, rất nhiều kẻ tấn công sử dụng trang web có độ dài cao nhằm biến domain của họ trông giống thực hơn, ví như http://amazon.com.itakeyourmoney.ru, trông giống với trang bán hàng trực tuyến Amazon với cái nhìn đầu tiên nếu bạn không kiểm tra phần đuôi cuối của địa chỉ này.
Dẫu vậy, cho dù nỗ lực của bạn có kiên cường như thế nào, thông tin vẫn có thể bị tấn công. Đó chính là lý do tại sao bạn nên giám sát thông tin nhận dạng của mình qua các dịch vụ như Debix, Citi IdentityMonitor, và Experian. Chúng sẽ cảnh báo bạn mỗi khi có một yêu cầu tín dụng mới xuất hện trong file của bạn. Hãy tập cho mình thói quen kiểm tra thẻ tín dụng và tài khoản ngân hàng thường xuyên nhằm đảm bảo rằng không có bất kì một khoản phí lạ nào.
Theo dõi
Nguy hiểm: Sẽ rất tiện lợi khi doanh nghiệp bán hàng trực tuyến yêu thích của bạn gửi email về sản phẩm bạn muốn mua. Tuy nhiên, tại sao họ lại biết được điều này? Thật không may là nếu bạn sử dụng Google để tìm duyệt các trang web với sản phẩm tương tự, hoặc truy cập vào trang web của doanh nghiệp này, việc bạn muốn mua sản phẩm đó không còn là bí mật nữa. Bạn đã nói với họ về những gì bạn muốn mua và họ chỉ việc lắng nghe.
Với các công nghệ theo dõi và phân tích phức tạp, nhiều trang web bán hàng biết được chính xác bạn là ai và bạn muốn mua gì nhất. Họ biết được bởi bạn đã nói với họ qua việc mua và tìm kiếm sản phẩm. Đây là dữ liệu rất có giá trị và các doanh nghiệp có thể (và đã) bán nó cho đối tác của mình.
Cách bảo vệ bản thân: Như đã nói ở trên, các nhà bán lẻ có uy tín biện hộ rằng họ sử dụng thông tin cá nhân của bạn để bảo vệ quyền riêng tư. Hãy kiểm tra để biết được doanh nghiệp bạn yêu thích có bán thông tin cho các doanh nghiệp khác hay không. Nếu có, hãy xem bạn nên nhận lời cung cấp từ bên thứ 3 hay không.
Hãy nghĩ tới việc kết nối tới Internet qua một VPN hoặc Proxy cá nhân bởi chúng có thể che giấu địa chỉ IP của bạn, qua đó vị trí của bạn cũng sẽ được an oàn. Điều này chỉ thực sự hiệu quả khi bạn đang duyệt web – một khi bạn quyết định mua, danh tính của bạn sẽ không còn được che giấu nữa. Theo Macworld/QTM

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

Cách khắc phục máy tính bị chiếm quyền điều khiển

Máy tính của bạn có thể gây chuyện phạm pháp ngay tại thời điểm này. Ngay cả khi bạn đọc bài báo này, các phần mềm chứa mã độc vẫn có thể ẩn đâu đó trong máy mà bạn không biết. Chúng sẽ gây rối các trang Web bạn truy cập hoặc làm lụt hòm thư của bạn với các quảng cáo. Đó chính là những đường link tấn công máy tính và bạn có thể rơi vào tình trạng này mặc dù bạn không thực hiện gì sai.
Cho dù bạn có gọi đó là đội máy tính bị mất quyền điều khiển hay một botnet - một tập hợp các máy tính đã bị tấn công – đây vẫn là một việc làm xấu. Hàng triệu máy tính đã mất quyền kiểm soát vào những hacker hiểm độc được biết đến với tên là Cracker. Những cracker này luôn tìm mọi cách để bạn tải và chạy một số phần mềm chứa mã độc hại hoặc malware. Nếu bạn rơi vào bẫy của chúng, nghĩa là máy tính của bạn đã bị tấn công.
Điều gì sẽ xảy ra nếu máy tính của bạn mất quyền kiểm soát – zombie? Những ứng dụng Zombie giúp cracker truy cập máy tính của bạn bằng cách tấn công vào những lỗ hổng bảo mật hoặc tạo một cửa sau. Một khi đã thiết lập được quyền quản trị, hắn sẽ điều khiển máy tính của bạn. Một số ứng dụng botnet còn cho phép cracker kiểm soát từ xa máy tính của bạn. Một số phần mềm khác lại giúp cracker khả năng truy cập những thông tin cá nhân của bạn và ăn trộm những thông tin đó.
Một trong những ứng dụng nhất của botnet là phân phát spam. Dựa vào số liệu của Symantec's MessageLabs, một mình botnet Cutwail đã phân phát 6,5% tất cả các tin nhắn spam trong tháng 2/2009. Điều này có nghĩa là máy tính của những nạn nhân vô tội đã gửi rất nhiều tin nhắn dạng như vậy tới những người khác trên toàn thế giới.
Một ứng dụng botnet khác là phân phát tấn công từ chối dịch vụ (DdoS). Đầu tiên, cracker sẽ tạo ra một hệ thống botnet rộng lớn bằng cách “nhử” nạn nhân chạy các phần mềm chứa mã độc. Sau đó, cracker sắp xếp một vụ tấn công vào máy chủ của một trang Web tại một thời điểm nhất định. Tới thời điểm đã định sẵn, các máy tính botnet sẽ đồng loạt gửi message tới máy chủ mục tiêu. Sự tăng đột ngột lưu lượng Internet này sẽ khiến Server mất ổn định. Nạn nhân của vụ tấn công thường là những hãng lớn, có số người truy cập nhiều như CNN hay Yahoo.
Vậy, bạn sẽ làm gì nếu phát hiện ra máy tính của mình là một phần của botnet?
Khôi phục sau khi bị Botnet tấn công
Các ứng dụng botnet thường tắt các chương trình diệt virus và spyware. Nếu thất máy tính của bạn bị chậm, ngay cả khi bạn không sử dụng nhiều ứng dụng trong cùng một thời điểm, có nghĩa là máy tính của bạn đã nhiễm zombie. Mỗi khi truy cập một trang web cung cấp các chương trình diệt virus hoặc spyware, bạn luôn gặp lỗi hoặc bị từ chối dịch vụ, đã có vấn đề xấu xảy ra với máy tính của bạn.
Cách tốt nhất để loại bỏ những ứng dụng botnet này thực sự tốn công và tốn thời gian: xóa sạch hệ điều hành của bạn rồi backup lại. bạn đã back up lại ổ cứng của bạn chưa? Nếu chưa, bạn nên thường xuyên backup ổ đĩa để đề phòng trường hợp có lỗi xảy ra.
Nếu có phần mềm firewall riêng, bạn có thể chặn một số ứng dụng giúp ai đó có thể truy cập từ xa vào máy tính của mình. Firewall đóng vai trò như một bộ lọc giữa máy tính của bạn với mạng Internet. Hầu hết các firewall có nhiều tính năng cài đặt bảo vệ. Trước tiên, cài đặt firewall của bạn ở mức bảo vệ cao nhất – điều này yêu cầu thông báo đối với bất kì ứng dụng nào muốn truy cập Internet. Sau đó, khởi động lại máy tính của bạn.
Ngoài ra, bạn hãy chú ý tới những yêu cầu trên hệ thống mạng của bạn. Ghi lại những tên của bất kì ứng dụng nào mà bạn không biết, nhất là khi bạn vừa mới kích hoạt ứng dụng đó. Không nên cho phép bất kì ứng dụng nào trông không đáng tin cậy hoặc bạn không biết truy cập Internet. Nếu bạn nhận được yêu cầu nhiều lần cho một ứng dụng, đó chính là dấu hiệu rõ ràng nhất của ý đồ biến máy tính của bạn thành một zombie.
Không chỉ vậy, bạn còn phải thực hiện một số nghiên cứu trên trang Web liên quan tới ứng dụng để biết được đã có ai đó nhận dạng được nó là malware. Bạn cũng sẽ phải tìm một danh sách những file đã kết hợp với ứng dụng và nơi mà bạn có thể tìm chúng trên máy tinh của mình. Chỉ có cách loại bỏ những file này, mới có thể giúp máy tính của bạn thoát khỏi malware. Thực tế, bạn có thể thực hiện các bước một vài lần để có thể chắc chắn bạn đã quét sạch chúng – một phần nhỏ của malware cũng có thể “mời” những ứng dụng và chương trình khác vào “bữa tiệc”.
Tất nhiên, phương pháp này cũng có một chút nguy hiểm – bạn có thể chẳng may xóa một file quan trọng mà hệ điều hành của bạn dựa vào đó để hoạt động. Tốt hơn hết là bạn nên xóa sạch hoàn toàn máy tính hơn là đi tìm những file đã bị nhiễm. Tuy nhiên, lời khuyên tốt nhất là bạn nên tránh việc trở thành nạn nhân. Tiếp đến, chúng ta sẽ tìm hiểu các cách để giúp bạn tránh việc bị biến thành một phần trong đội máy tính bị mất quyền kiểm soát zombie.
Tránh botnet và zombie
Từ chối việc tải nhiều chương trình diệt virus và chống spyware. Những ứng dụng này có thể là nguồn tấn công và có thể khiến máy tính của bạn xử lý các chương trình khác chậm hơn. Chúng cũng có thể kết hợp với nhau và khiến hệ điều hành của bạn trở nên thiếu ổn định. Tốt hơn hết là chỉ nên cài đặt một ứng dụng và trung thành với nó.
Không ai muốn phải xóa sạch hệ điều hành của mình rồi lại phải thực hiện backup từ bản sao dữ liệu, ngay cả khi chúng chỉ thực hiện backup một số phần chính. Tốt hơn hết là biết được nên cảnh giác với cái gì và bảo vệ bản thân trước khi quá muộn.
Trước tiên, hãy bảo vệ hệ thống của bạn. Sử dụng mã hóa mật khẩu đối với mạng gia đình cũng như mạng ở công ty. Cài đặt firewall để ngăn chặn tấn công từ hacker và nhớ chú ý tới lưu lượng Internet. Sử dụng một chương trình chống virus và spyware đáng tin cậy cũng không phải là ý tưởng tồi. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều loại, chương trình có bản quyền và ứng dụng miễn phí trực tuyến.
Một cách khác để bảo vệ máy tính của bạn là hình thành thói quen truy cập Web cẩn thận hơn. Không nên kích vào những đường link tragn Web ngẫu nhiên xuất hiện mà bạn chưa từng biết đến nó trước đây. Nếu gặp một cửa sổ pop-up yêu cầu bạn tải một phần mềm diệt virus hoặc khẳng định rằng nó sẽ quét máy tính của bạn để tìm malware, không nên kích vào đó. Thông thường, những cửa sổ pop-up là những scam – kích vào đó sẽ giúp cài đặt malware vào máy tính của bạn.
Scam có thể tấn công bạn với nhiều đường khác nhau, nhất là email. Vì vậy, bạn nên tránh việc kích vào những đường link trong email. Nếu nhận một thông báo từ ngân hàng mà bạn không có tài khoản ở đó, bạn không nên kích vào bất kì đường link nào bởi đây thường là phishing scam với mục đích moi tiền của bạn. Những scam khác cố gắng lừa bạn kích vào đường link với lời hứa nhận được lợi nhuận lớn mà chỉ cần đầu tư 1 chút hoặc thậm chí là không phải đầu tư gì cả. Những điều này đã được chúng tôi đề cập trong các bài báo trước như cách thức hoạt động của hacker, cách thức hoạt động của phishing, troll hoạt động như thế nào… hãy đọc những bài báo trên để có thể hiểu rõ hơn.
Cuối cùng, tránh những trang Web đáng ngờ, nhất là những trang có liên quan tới nội dung thông tin cá nhân, mật khẩu hoặc nội dung không lành mạnh. Những địa chỉ này là của những kẻ xấu trên mạng – truy cập nó là tiếp tay cho malware vào máy tính của bạn. Ngày nay, rất nhiều trình duyệt sẽ cảnh báo bạn nếu bạn cố truy cập một địa chỉ nổi tiếng có malware. Hãy chú ý tới những cảnh báo này – không cần biết nội dung của trang là gì, thật không đáng để từ đó mà cracker có thể truy cập vào máy tính của bạn.
Nếu bạn giữ cảnh giác và truy cập Web an toàn, bạn sẽ tránh được việc máy tính của mình có trở thành một phần của zombie.
Theo Howstuffworks/QTM

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Phân tích các tấn công chiếm quyền điều khiển DLL

Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn các lỗi trong kiến trúc phần mềm có thể bị tấn công chiếm quyền điều khiển DLL, cách phát hiện các ứng dụng có lỗ hổng hay không và cuối cùng là các bước thực hiện để bảo đảm tránh được các tấn công kiểu này.
Trước đây, các nhà nghiên cứu bảo mật đã tiết lộ các thông tin chi tiết về một lớp lỗ hổng bảo mật mà theo họ đã có một số ảnh hưởng khá rộng. Họ đã phát hiện ra hàng trăm ứng dụng bị hổng trước các tấn công này và tấn công này được đặt tên là chiếm quyền điều khiển DLL (DLL Hijacking). Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho cá bạn một số lỗi về kiến trúc phần mềm có thể bị ảnh hưởng bởi các tấn công này, thêm vào đó là cách cách phát hiện các ứng dụng có lỗ hổng hay không và cuối cùng là các bước thực hiện để bảo đảm tránh được các tấn công kiểu này.

Cách tấn công
DLL hijacking có thể được thực hiện là vì tất cả các ứng dụng Windows đều dựa vào các thư viện liên kết động (viết tắt DLL) với tư cách là những phần trong chức năng lõi của chúng. Các file DLL được các chuyên gia phát triển phần mềm viết và triệu gọi bên trong các ứng dụng của họ nhằm thực hiện các chức năng khác nhau. Bản thân Windows cũng dựa trên kiểu kiến trúc như vậy và có chứa vô số file DLL để thực hiện rất nhiều chức năng khác nhau.
Tài Liệu CEH Tiếng Việt
Biên soạn : Nguyen Tran Tuong Vinh. eLab Bang Tran Ngoc
Giá bán: 100.000 VNĐ
Cùng với các file DLL có trong hệ điều hành Windows, các chuyên gia phát triển ứng dụng cũng thường viết riêng các file DLL của họ để thực hiện một số chức bởi chương trình. Khi viết xong, các file DLL sẽ được đóng gói và được cài đặt cùng với ứng dụng. Vấn đề nảy sinh theo cách các ứng dụng load các file DLL này. Mặc định, khi một ứng dụng không có đường dẫn được định nghĩa cố định để chỉ đến một file DLL nào đó mà nó yêu cầu thì ứng dụng này sẽ thực hiện hành động tìm kiếm động. Trong quá trình thực hiện tìm kiếm, đầu tiên ứng dụng sẽ tìm kiếm trong thư mục mà trước đó nó được thực thi, sau đó sẽ tìm kiếm thư mục hệ thống, thư mục hệ thống 16-bit, thư mục Windows, thư mục hiện hành và sau đó là các thư mục được liệt trong biến môi trường PATH của hệ điều hành. Trong tìm kiếm các đường dẫn này, ứng dụng sẽ sử dụng DLL mà nó tìm thấy đầu tiên.
Với các kiến thức cơ bản trên, hãy hình dung một kịch bản mà ở đó chúng ta đã thực thi một ứng dụng phải thực hiện tìm kiếm động một DLL. Ứng dụng sẽ ngay lập tức tìm kiếm đường dẫn mà nó được thực thi trước đó và tìm ra một dll trùng khớp. Tuy nhiên với người dùng, DLL thực có liên quan với ứng dụng nằm trong thư mục Windows system. DLL được đặt trong thư mục với ứng dụng là DLL đã được điều chỉnh bởi một kẻ tấn công nhằm truy cập từ xa vào hệ thống. Rõ ràng, ứng dụng sẽ không thể tìm ra được DLL thực vì nó đã tìm thấy DLL trùng khớp mà nó cần tìm.
Nhận dạng các ứng dụng có lỗ hổng
Vấn đề lớn nhất với các tấn công DLL hijacking là Microsoft không thể phát hành bản vá để có thể vá được tất cả các ứng dụng có lỗ hổng. Điều này là vì nếu tung ra một bản vá như vậy sẽ làm cho một số ứng dụng bị vô hiệu hóa. Chính vì vậy việc khắc phục vấn đề sẽ liên quan đến cả hai bên. Đầu tiên, các công ty và chuyên gia phát triển phần mềm, người đã tạo các ứng dụng có lỗ hổng phải sửa code của họ và cung cấp các bản cập nhật đến người dùng. Tiếp đến, người dùng (các quản trị viên hệ thống) phải xác định xem liệu mạng của họ có đang sử dụng các ứng dụng có lỗ hổng hay không, tìm ra và cài đặt các bản vá được các hãng cung cấp.
Có một số cách có thể phát hiện liệu bạn có đang sử dụng ứng dụng có lỗ hổng hay không. Phương pháp đơn giản nhất là kiểm tra các tài nguyên công cộng được post bởi các nhà nghiên cứu bảo mật và xem ứng dụng của bạn có tồn tại ở đó hay không. Bạn có thể tìm kiếm các tài nguyên như vậy ở đây.

Hình 1: Danh sách các ứng dụng có lỗ hổng
Phương pháp thứ hai yêu cầu thêm một số công việc vì những gì cần được thực hiện sẽ xảy ra trong các môi trường bảo mật cao. Rất có thể bạn sẽ nghĩ phương pháp này đòi hỏi phải có hiểu biết kỹ thuật và chỉ dành cho các chuyên gia bảo mật mức cao. Tuy nhiên không phải như vậy, chuyên gia bảo mật HD Moore đã biết tầm quan trọng của tấn công này và đã phát triển một bộ kit thẩm định (auditing kit), đây là bộ kit có thể được sử dụng để tìm kiếm các ứng dụng có lỗ hổng trong một hệ thống nào đó.
Bộ kit này có tên gọi DllHijackAuditKitv2 và được cung cấp tại đây. Khi download xong, bạn cần đăng nhập với tư cách quản trị viên hệ thống, bung các nội dung của file nén ZIP và thực thi file 01_StartAudit.bat. Kịch bản này sẽ download Sysinternals Process Monitor và bắt đầu thực hiện việc kiểm tra hệ thống để tìm ra các ứng dụng có lỗ hổng. Trong quá trình chạy nếu việc download Process Monitor thất bại thì bạn có thể download nó trực tiếp từ đây. Khi đã download, bảo đảm cho Process Monitor nằm trong cùng thư mục với các kịch bản thẩm định. Kịch bản thẩm định ban đầu sẽ mất khá nhiều thời gian để chạy. Phụ thuộc vào số lượng ứng dụng trên hệ thống mà việc thẩm định có thể mất từ 15 phút đến hàng giờ.

Hình 2: Kiểm tra thẩm định ứng dụng có liên quan với phần mở rộng file
Sau khi kịch bản thẩm định hoàn tất sự thực thi của nó, bạn phải chuyển qua ứng dụng kiểm tra quá trình đã xuất hiện bởi kịch bản và lưu báo cáo mà nó tạo ra. Kích File và Save để thực hiện việc đó. Bảo đảm lưu file ở định dạng CSV với tên Logfile.CSV trong thư mục audit kit.
Tiếp đến, chạy kịch bản 02_Analyze.bat. Kịch bản này sẽ phân tích cú pháp file CSV và tìm ra các lỗ hổng tiềm tàng. Nếu có lỗ hổng nào đó được phát hiện, ứng dụng sẽ tạo một mã khai thác để minh chứng cho lỗ hổng.

Hình 3: Kịch bản thứ hai cố gắng khai thác các lỗ hổng tiềm tàng đã được phát hiện
Cuối cùng, nhắc lệnh bên trái được mở bởi kịch bản sẽ liệt kê các ứng dụng đã bị khai thác thành công. Với một ứng dụng có thể bị khai thác, kịch bản sẽ tạo một thư mục con bên dưới thư mục khai thác. Các thư mục con này sẽ chứa các khai thác đang làm việc cho các ứng dụng bị ảnh hưởng. Các khai thác sẽ thực hiện những thứ như khởi chạy các command shell và các bộ lắng nghe backdoor. Đây chính là bằng chứng về các khai thác vì chúng khởi chạy file calc.exe.
Các thông tin này sẽ rất có ích cho bạn trong việc phát hiện xem mình có sử dụng các ứng dụng có lỗ hổng hay không.
Ngăn chặn tấn công
Trong khi đợi các bản vá phần mềm, có một số thứ bạn có thể thực hiện để hạn chế việc lộ diện của bạn trước các tấn công DLL hijacking.
Sử dụng bản vá CWDIllegalInDllSearch
Đáp trả ban đầu bởi Microsoft cho lớp các lỗ hổng này là thay đổi registry qua việc thay đổi cách load các DLL nhằm giảm nhẹ tấn công. Bản vá đã được triển khai rất cẩn thận vì nó có thể phá vỡ chức năng hoạt động của các ứng dụng đã cài đặt, tuy nhiên cũng nên test nếu bạn quan tâm đến kiểu tấn công này. Bạn có thể đọc thêm về bản vá ở đây.
Khóa Outbound SMB vành đai
Hầu hết các tổ chức đã thực hiện điều này, còn nếu bạn chưa thực hiện thì đây là thời điểm tốt để làm điều đó. Điều này cũng giúp bạn tránh được một số kiểu tấn công khác.
Hủy bỏ cài đặt phần mềm có lỗ hổng
Cách thức này không phải lúc nào cũng khả thi, tuy nhiên nếu bạn đang sử dụng một ứng dụng có lỗ hổng và có thể dễ dàng thay thế thì công việc mà bạn cần thực hiện để bảo đảm sự an toàn là chuyển đổi ứng dụng.  
Triển khai phần phềm phát hiện xâm nhập (IDS)
Trong một số trường hợp không thể giảm nhẹ tấn công thì tốt nhất là tìm ra kẻ tấn công trong sau khai thác. Sử dụng các công cụ phát hiện xâm phạm miễn phí như Snort, bạn có thể phát hiện các dấu hiệu của hành động tấn công mà ai đó đã khai thác trên máy tính có lổ hổng.
Kết luận
Sự xuất hiện của rất nhiều lỗ hổng DLL hijacking đã tạo ra một kịch bản đáng quan tâm vì thực tế chúng ta không thể phát hành một bản vá cho hệ điều hành để có thể vá một loạt các ứng dụng. Cách tốt nhất bạn có thể thực hiện là bảo đảm rằng mình biết và có kiến thức về cách làm việc của kiểu tấn công này, biết cách test xem nó có tồn tại trên các ứng dụng mà bạn đang sử dụng trong mạng của mình hay không, tiếp đó cần phải nhận các thông tin đúng từ những người có thể cấp bản vá để sửa nó. Theo Windowsecurity/QTM

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

Phòng vệ trước các tấn công bên trong môi trường mạng

Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số bước cơ bản có thể được sử dụng để bảo vệ bạn trước các tấn công đến từ bên trong môi trường mạng.
Theo báo cáo của MSNBC.com, một thống kê được thực hiện bởi CSO Magazine đã phát hiện ra có đến hơn 58% tấn công được thực hiện từ bên ngoài, 21% tấn công được thực hiện bên trong; tuy nhiên mức nguy hiểm của các tấn công bên trong lại nguy hại hơn rất nhiều so với năm 2010, cụ thể là 33% so với 25%. Điều đáng lo ngại nhất là tấn công bên trong đang trở nên phức tạp hơn rất nhiều, có đến 22% tấn công bên trong có sử dụng các công cụ rootkit và công cụ hacker so với 9% vào năm ngoái, các công cụ tấn công cũng gia tăng ở mức độ đáng báo động. Bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách bảo vệ mạng của mình trước các tấn công bên trong ngày càng phức tạp.

Tại sao các tấn công bên trong ngày càng trở nên nguy hiểm hơn
Chúng ta có thể hiểu tấn công bên trong là tấn công được chỉ đạo bởi những người đang truy cập trái phép vào mạng và hệ thống của bạn. Họ rất có thể là một số nhân viên vì một lý do nào đó muốn chống lại công ty, một số vì động cơ muốn kiếm tiền bất chính mà sử dụng hệ thống để đánh cắp tài sản của công ty,… bất cứ ai lạm dụng đặc quyền của họ trong mạng công ty để sử dụng nó theo cách trái phép. Một số tấn công có thể là người bên trong bị đe dọa, mua chuộc bởi người bên ngoài nhằm đánh cắp các thông tin công ty, cài cắm virus hay malware để làm sập mạng của bạn,…
Một số kịch bản tấn công ở đây là:
  • Tiêm nhiễm một cách có chủ tâm các máy tính và mạng công ty bằng malware hoặc virus để làm gián đoạn công việc và gây hậu quả mất năng suất.
  • Cài đặt spyware, phần mềm keylogger hay các kiểu phần mềm tương tự như vậy để lấy cắp thông tin về những gì đồng nghiệp hay những người khác trong công ty đang thực hiện.
  • Đánh cắp mật khẩu để đăng nhập vào mạng công ty để đội lốt trước người dùng nào đó.
  • Copy các thông tin bảo mật của công ty và gửi ra bên ngoài mà không được phép .
Tại sao hầu hết các chiến lược bảo mật thường tập trung đến tấn công bên ngoài
Nếu các tấn công bên trong gây tổn hại đến công ty nhiều hơn thì tại sao hầu hết chính sách và chiến lược bảo mật thường tập trung vào bảo vệ mạng tránh các mối đe dọa đến từ bên ngoài? Có rất nhiều lý do để giải thích. Nền tảng của việc bảo mật mạng là tường lửa –  một “người gác cổng” được đặt giữa các máy tính (người dùng) trong mạng bên trong và những tấn công tiềm ẩn đến từ bên ngoài. Tuy nhiên có vấn đề đối với mô hình này là nó tạo ra một giả định lớn và đôi khi không hợp lệ, đó là tất cả người dùng bên trong phải hoàn toàn được tin tưởng. Chúng ta cũng không hề ngạc nhiên khi có rất nhiều công ty đưa ra giả định này. Đó là bản tính của con người, không mấy ai nghĩ người của mình lại phản bội mình. Mặc dù vậy đây có thể là một lỗi chí tử đối với bạn.
Có lẽ nguyên nhân chính là không hề đơn giản để chống lại các tấn công từ bên trong. Các nhân viên thường phải truy cập vào thông tin nhạy cảm để thực hiện công việc của họ. Họ có các chứng chỉ hợp lệ để đăng nhập vào mạng, do đó hoàn toàn dễ dàng khai thác bất cứ lỗ hổng bảo mật có thể gây gián đoạn các dịch vụ mạng. Một số người còn cho rằng  chúng ta không thể kiểm soát được những người này. Họ đưa ra quan điểm: Nếu bạn đưa cho ai đó chìa khóa để vào vương quốc, khi đó sẽ thực sự khó khăn trong việc ngăn chặn anh ta lạm dụng chúng để làm những gì anh ta muốn. Mặc dù vậy vẫn có rất nhiều bước có thể sử dụng để hạn chế những người bên trong thực hiện các hành vi phá hoại diện rộng.
Phát triển chiến lược bảo mật để bảo vệ trước các tấn công bên trong
Một số tổ chức bán lẻ đã sử dụng các chương trình tránh mất cắp để ngăn chặn nhân viên của họ lấy trộm hàng hóa cũng như tiền, một số tổ chức có liên quan với dữ liệu điện tử nhạy cảm cũng có thể sử dụng các chương trình DLP (data loss prevention). Và hiện tại có rất nhiều hãng cung cấp công nghệ DLP, tuy nhiên một chiến lược toàn diện sẽ là tốt nhất so với việc chỉ mua một thiết bị DLP và sử dụng chúng.
Có thể chúng ta sẽ không bao giờ loại bỏ hoàn toàn được rủi ro đến từ các tấn công bên trong, tuy nhiên đây là một số thứ bạn có thể làm để giảm bớt những vụ việc và sự ảnh hưởng của nó:
  • Sử dụng thiết bị hay phần mềm DLP chuyên dụng: Các thiết bị hoặc phần mềm DLP cho phép bạn lần theo lưu lượng dữ liệu của công ty, có thể là theo thời gian thực hay bằng cách thu thập các thông tin và tổng kết nó trong các báo cáo hàng ngày hoặc hàng tuần. Bạn nên có một hệ thống DLP có thể chặn và đọc các tin nhắn SSL hoặc được mã hóa, bằng không người dùng sẽ có thể mã hóa dữ liệu mà họ gửi ra ngoài mạng hết sức đơn giản. Lưu ý rằng nhược điểm của DLP là nó có thể ảnh hưởng khá tiêu cực đến hiệu suất mạng.
  • Cấu hình tường lửa để kiểm soát lưu lượng theo cả hai chiều: Hầu hết các tường lửa hiện đại đều có khả năng lọc lưu lượng gửi vào và gửi ra, tuy nhiên phần lớn được cấu hình chỉ để điều khiển lưu lượng gửi vào. Thiết lập các nguyên tắc gửi ra trên tường lửa của bạn sẽ khóa chặn được hoặc cho phép lưu lượng mạng phù hợp với tiêu chuẩn bạn thiết lập. Cho ví dụ, bạn có thể khóa chặn các lưu lượng gửi ra sử dụng một cổng nào đó.
  • Sử dụng các bộ kiểm tra gói dữ liệu bên trong mạng: Các thiết bị DLP và tường lửa thường ưu tiên tập trung vào lưu lượng được gửi ra ngoài mạng. Tuy nhiên bạn có thể sử dụng các công cụ kiểm tra gói dữ liệu chẳng hạn như các sản phẩm Network Analysis and Visibility (NAV) để kiểm tra nội dung các gói di chuyển bên trong mạng nội bộ, cho ví dụ khi người dùng download một file từ máy chủ vào máy tính của anh ta mà người dùng này không có quyền truy cập hoặc dữ liệu này không cần thiết đối với công việc của họ. Công cụ NAV có thể kiểm tra nội dung một cách sâu sắc và tìm kiếm từ hay kiểu dữ liệu cụ thể (chẳng hạn như số phúc lợi xã hội) bên trong một tài liệu hay một file nào đó. Nhược điểm của NAV cũng như DLP đó là làm chậm hiệu suất mạng.
  • Sử dụng các sản phẩm bảo mật email có bộ lọc nội dung: Bạn có thể sử dụng tính năng lọc nội dung cho các sản phẩm bảo mật email, cho ví dụ, để khóa chặn tin nhắn được gửi ra có chứa những từ khóa nào đó, hay khóa chặn không cho người dùng gửi đính kèm, ngăn chặn người bên trong gửi thông tin bảo mật ra ngoài mạng của bạn.
  • Mã hóa dữ liệu: Mã hóa dữ liệu nhạy cảm sẽ gây khó khăn cho những người bên trong mạng (cũng như người bên ngoài) trong việc truy cập và đọc thông tin.
  • Chính sách đặc quyền tối thiểu: Để bảo mật và phòng vệ tốt nhất đối với những mối đe dọa đến từ bên trong, bạn luôn phải thực hiện một chính sách cho phép người dùng có các đặc quyền ở mức hạn chế nhất, tuy nhiên vẫn đảm bảo họ vẫn thực hiện tốt các công việc cần làm. Sử dụng chính sách như vậy khi cấu hình sản phẩm DLP của bạn hay các chính sách gửi ra đối với tường lửa bắt đầu bằng cách khóa chặn mọi thứ và sau đó cho phép những thứ nào cần thiết nhất, phương pháp này sẽ trái ngược hoàn toàn với việc bắt đầu cho phép mọi thứ và sau đó hạn chế những gì bạn cảm thấy cần thiết sau. Tương tự như vậy, các khóa để truy cập vào dữ liệu được mã hóa cũng chỉ nên cung cấp sẵn cho những người mà công việc của họ yêu cầu truy cập vào dữ liệu đó, không cung cấp cho tất cả các nhân viên.
  • Thẩm định truy cập file: Thực thi thẩm định sự truy cập đối với các đối tượng hệ thống file sẽ giúp bạn phát hiện lúc nào người bên trong truy cập các thông tin không liên quan đến công việc của họ.
  • Vùng có liên quan đến công việc: Đây là một chính sách nhằm bảo đảm rằng không cá nhân nào có thể tiến hành một phiên giao dịch quan trọng (chẳng hạn như chuyển tiền tệ) một mình. Một cá nhân có thể khởi tạo quá trình đó nhưng nó không thể kết thúc mà không có sự xác thực của ai khác. Điều này sẽ cho phép kiểm tra nhiều lần và tạo sự cân bằng trong việc bảo vệ chống lại các nhân viên phản bội hay kẻ xâm nhập nào đó.
  • Kiểm soát các thiết bị USB: DLP, tường lửa và lọc nội dung email sẽ giúp ngăn chặn được người bên trong tổ chức gửi các thông tin nhạy cảm của công ty ra ngoài mạng thông qua Internet. Tuy nhiên, các thiết bị như ổ USB ngoài rất hay được sử dụng bởi những người bên trong công ty nhằm giúp họ copy các thông tin nhạy cảm và mang nó ra ngoài công ty. Để tránh điều này, bạn có thể vô hiệu hóa các cổng USB trên hệ thống của những người không cần thiết sử dụng. Bạn có thể sử dụng chính sách nhóm của Windows hay phần mềm nào đó của hãng thứ ba để hạn chế hay khóa chặn việc cài đặt các thiết bị USB. Các phần mềm như GFI Endpoint Security có thể được sử dụng để quản lý sự truy cập người dùng, ghi lại các hành động của thiết bị USB, thẻ nhớ, CD, ổ mềm, iPod cũng như các thiết bị nghe nhạc MP3, điện thoại di động, PDA và bất cứ thứ gì có thể kết nối với máy tính thông qua đường USB.
  • Các dịch vụ quản lý quyền hạn: Quản lý quyền hạn cho phép bạn cung cấp sự truy cập dữ liệu đối với người dùng nhưng sẽ giúp bạn ngăn chặn được việc những người này chia sẻ dữ liệu với những người không có thẩm quyền. Windows Rights Management Services (RMS) cho phép bạn khóa chặn việc copy hoặc in ấn các tài liệu, khóa chặn việc chuyển tiếp hoặc copy nội dung email,… Windows cũng cho phép khóa chặn hàng vi chụp toàn màn hình để bảo vệ các tài liệu và email. Tuy vẫn còn rất nhiều cách mà người dùng trong công ty bạn có thể khai thác (cho ví dụ như sử dụng máy ảnh từ điện thoại di động của họ để chụp ảnh màn hình) nhưng điềi này sẽ khiến họ khó khăn hơn trong việc biển thủ các thông tin được bảo mật.
  • Quản lý sự thay đổi: Các công cụ quản lý cấu hình và quản  lý thay đổi, Configuration and Change Management, có thể giúp bạn nhận dạng thời điểm người dùng bên trong tổ chức thực hiện những thay đổi đối với cấu hình hệ thống nhằm tăng quyền truy cập đến các thông tin mà họ không cần thiết. Có rất nhiều sản phẩm trên thị trường có thể được sử dụng để tìm kiếm sự thay đổi trong mạng.
  • Quản lý nhận dạng: Do các đặc quyền truy cập được phép dựa trên sự nhận dạng của người dùng nên cấp bách bạn phải có một hệ thống quản lý nhận dạng tốt. Điều này càng trở nên quan trọng hơn trong các môi trường mạng ngày nay, nơi công ty liên doanh và di rời một số hay tất cả dữ liệu vào đám mây, điều khiến mọi thứ trở nên phức tạp hơn bao giờ hết.
  • Theo Windowsecurity/QTM

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Information Security and Risk Management (P.2)

Organizational Security Model - Mô Hình An Ninh Tổ Chức

Organizational Security Model là mô hình nền tảng an ninh được kiến tạo từ nhiều đối tượng, cơ chế bảo vệ, logical, administrative và các thành phần physical, procedure, business processes, cùng với các cấu hình, mà trong cơ cấu này tất cả cùng liên kết với nhau để cung cấp một mức độ an ninh tổng thể cho tổ chức.



Mỗi tầng lớp trong mô hình đều khác biệt với nhau, nhưng tất cả các tầng lớp đều thực hiện theo quy tắc: hỗ trợ các tầng lớp phía trên và bảo vệ cho các tầng lớp phía dưới. Bởi vì Security Model là một nền tảng (framework), cho nên tổ chức có thể linh hoạt tích hợp nhiều loại công nghệ, phương pháp và các thủ tục vào mô hình để đạt được mức độ bảo vệ cần thiết cho môi trường an ninh của họ.
 
untitled.JPG
Hình 3-4 minh họa các thành phần có thể tạo nên một Security Model. Một mô hình bảo mật toàn diện và hiệu quả có nhiều thành phần được tích hợp

Hiệu quả trong vấn đề an ninh đòi hỏi một phương pháp tiếp cận được cân bằng giữa tất cả các thành phần an ninh và các thủ tục.

Một số thành phần an ninh là technical (access control lists, encryption) và một số thành phần non-technical (physical và administrative, việc phát triển chính sách an ninh và thực thi compliance), nhưng chúng đều được đặt một vị trí quan trọng trong nền tảng an ninh, và nếu như thiếu hoặc chưa hoàn thành các thành phần đó, nền tảng ninh an có thể bị ảnh hưởng.

Mô hình an ninh có các tầng lớp khác nhau, ngoài ra chúng còn có các mục tiêu khác nhau và thời gian hoàn thành mục tiêu cũng khác nhau.

Chúng ta có những mục tiêu dành cho chính bản thân mình trong ngày hôm nay như vệ sinh răng miệng thật sạch sẽ, chạy bộ ba cây số, hoàn thành dự án vào ngày hôm nay, dành thời gian chơi với con của chúng ta. Đây gọi là Operational goals (mục tiêu hoạt động) hoặc goals short-term goals (mục tiêu ngắn hạn, tốn vài giờ hàng ngày)

Ngoài ra chúng ta có thể còn có Tactical goals mất kha khá thời gian và nỗ lực hay còn gọi là mid-term goals (mục tiêu trung hạn, tốn vài ngày hoặc vài tuần) như : hoàn thành bằng thạc sĩ, viết một cuốn sách và được thăng tiến.

Và cuối cùng còn một loại nữa là Strategic goals, hay còn gọi là long-term goalds (mục tiêu dài hạn) : bạn có thể nghỉ hưu lúc 55 tuổi, tiết kiệm đủ tiền để có cuộc sống thoải mái, sống trên một chiếc houseboat.

Vài ví dụ về Short, Mid và Long term goals trong đời thường :
List 1: "Short term goals".
* Ăn một cây kem
* Chơi bóng đá
* Đọc cuốn sách
* Vẽ tranh
* Làm bài tập
* Xem TV

List 2: "Mid term goals" (a few days or a few weeks).
* Đọc 1 cuốn sách trong tuần này.
* Sơn lại chiếc xe đạp cho ngày hội đua xe .
* Làm dự án tiêu tốn vài ngày.

List 3: "Long term goals" (Months or years)
* Đọc 15 cuốn sách trong mùa hè năm nay
* Học cách bơi lội
* Học lái máy bay
* Lái xe từ SG ra HN
* Trở thành CISSP

Tương tự với cuộc sống đời thường, điều đó cũng xuất hiện trong việc lên kế hoạch an ninh. Operational goals (hay daily goals), mục tiêu hàng ngày là tập trung vào hiệu suất và định hướng công việc, vận hành trơn tru toàn bộ tổ chức.

Tactical goal (hay mid-term goals) : có thể là mục tiêu tích hợp toàn bộ máy Workstations và tài nguyên vào chung một Domain, để đạt được mục đích quản trị tập trung .

Còn Strategic goal (hay long-term goals) : có thể là mục tiêu chuyển đổi hạ tầng tất cả các chi nhánh từ IPv4 sang IPv6, triển khai thực hiện kết nối IPSec VPN cho tất cả Remote-users, hoặc tích hợp công nghệ không dây với các biện pháp an ninh vào môi trường của toàn tổ chức.

Security planning có thể được chia thành ba phạm vi khác nhau : Strategic, TacticalOperational.

Strategic planning là kế hoạch nằm trong phạm vi liên quan đến mục tiêu công nghệ thông tin và kinh doanh. Mục tiêu của Strategic planning là một con đường dài, có thể được mở rộng ra đến tận năm, mười năm trong tương lai. Strategic planning có thể bao gồm các mục tiêu sau đây :
  • Đảm bảo hiểu rõ và xử lý được các rủi ro trong tổ chức
  • Đảm bảo toàn bộ tổ chức phải tuân thủ luật lệ và quy định
  • Tích hợp trách nhiệm liên quan đến bảo mật xuyên suốt từ đầu đến cuối khắp tổ chức
  • Kiến tạo một mô hình tăng trưởng nhằm mục tiêu liên tục cải tiến tổ chức
  • Sử dụng việc đảm bảo an ninh như là một thành tích trong kinh doanh để thu hút khách hàng (Các ngân hàng ở VN đã và đang thực hiện những điều này, như ACB ra mắt vụ xác thực vân tay bảo vệ khách hàng)
Tactical planning đề cập đến những sáng kiến và hỗ trợ cho các mục tiêu rộng lớn đã được lập ra bởi Strategic planning. Nhìn chung, Tactical plan thường kế hoạch có chu kỳ ngắn hơn so với Strategic plan.

Và cuối cùng là Operational planning, đề cập đến những kế hoạch cụ thể, có deadlines và mục tiêu rõ ràng. Điều này liên quan đến ngày tháng mà mục tiêu sẽ được hoàn thành, cũng như đưa ra những hướng dẫn cụ thể để hoàn thành công việc. Những mục tiêu này thường có chu kỳ ngắn hạn (short-term) hoặc mang tính chất tạm thời để giảm thiểu rủi ro cho đến khi Tactical plan hoặc Strategic plan được tạo ra và triển khai thực hiện.

Một số ví dụ về Operational planning, để giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về nó :
  • Thực hiện một cuộc đánh giá rủi ro
  • Không cho phép thay đổi an ninh làm giảm hiệu suất công việc
  • Duy trì và triển khai kiểm soát
  • Liên tục quét các lỗ hổng và đưa ra bản vá lỗi
  • Theo dõi sự tuân thủ chính sách
Phương pháp tiếp cận để lên kế hoạch gọi là Planning Horizon (Chu kỳ kế hoạch), là lượng thời gian mà tổ chức cần xem xét khi chuẩn bị một kế hoạch. Nhiều tổ chức thương mại dành ra 5 năm cho planning horizon, nhưng có những tổ chức khác như Ủy Ban Lâm Nghiệp UK đã dành nhiều thời gian hơn hẳn cho planning horizon để hình thành ra được các kế hoạch có hiệu quả thực sự.

Một tổ chức thường không thể triển khai thực hiện được tất cả thay đổi cùng một lúc. Đôi lúc, có những thay đổi không thể triển khai cho đến khi hoàn thành những thay đổi khác. Vì câu này hơi khó hiểu nên chúng ta có thể đọc tiếp phần dưới để dễ hình dung hơn.

Nếu một tổ chức muốn triển khai xây dựng Certificate Authority (CA) và cơ sở hạ tầng khóa công khai (PKI) cho chính họ, điều này không thể hoàn thành trong vòng 2 tuần nếu tổ chức hiện đang làm việc theo mô hình phân tán (decentralized workgroup) và không có cấu trúc Domain.

Vì lý do đó, họ đặt ra Operational goals là giữ cho toàn bộ năng suất hoạt động trơn tru và thực hiện từng bước nhỏ để chuyển đổi môi trường trở thành cấu trúc Domain. Tiếp theo, họ đặt ra Tactical goal là đưa toàn bộ các Workstations và tài nguyên vào cấu trúc Domain, để tập trung kiểm soát truy cập và xác thực. Strategic goal của họ là tất cả cácWorkstations, Servers và Devices sẽ sử dụng PKI để cung cấp việc xác thực, mã hóa và giúp cho các kênh liên lạc được an toàn hơn.

An toàn thông tin sẽ hoạt động tốt nếu các mục tiêu Operational, Tactical và Strategic được định nghĩa rõ ràng và cùng hỗ trợ lẫn nhau, trên thực tế sẽ khó khăn nhiều hơn so với những gì chúng ta đọc lý thuyết về chúng.

Security Program Components - Các Thành Phần Trong Chương Trình An Ninh
Tôi có chính sách bảo mật, vì vậy chúng tôi phải có một chương trình bảo mật.

Chuyên gia trả lời : Bạn chỉ mới bắt đầu thôi, bạn của tôi.

Ngày nay, các tổ chức, các doanh nghiệp, cơ quan chính phủ và kể cả các cá nhân đều có nhiều vấn đề liên quan đến an toàn thông tin hơn bao giờ hết. Với những quy chế về an toàn thông tin được ban hành bởi chính phủ, sự gia tăng về số lượng chiến tranh công nghệ cao và chi phí dành cho việc chiến đấu chống lại tin tặc và các phần mềm độc hại, sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào công nghệ thông tin, mối quan tâm về an toàn thông tin đang được bành trướng mở rộng từ bộ phận IT cho đến các bộ phận quản lý cấp cao, các cuộc họp khẩn về an toàn thông tin.

Hầu hết các chuyên gia bảo mật đều hoan nghênh sự thay đổi này, bởi vì những người có khả năng ra quyết định, cuối cùng cũng đã tham gia và quan tâm đến vấn đề an toàn thông tin, giúp cho chương trình bảo mật có thể thực hiện trên toàn tổ chức (enterprise-wide). Những chuyên gia bảo mật có kinh nghiệm vẫn luôn ngầm hiểu rằng, công nghệ chỉ là một phần nhỏ trong an ninh tổng thể. Những quản lý cấp cao trong tổ chức đang bắt đầu có trách nhiệm hơn về vấn đề an ninh, nhưng dù sao chúng ta cũng không nên vui mừng quá về sự thay đổi này.

Những kịch bản phổ biến trong các tổ chức thường như sau :

Kịch bản 1:
CEO và các thành viên hội đồng quản trị cuối cùng cũng đã phải chú trọng, quan tâm sâu sắc về vấn đề an ninh thông tin, bởi vì do chính phủ ban hành các quy chế mới, bởi vì các chi phí tổn thất từ các cuộc tấn công của Malwares đã đạt đến một ngưỡng giới hạn, hoặc vì một vụ án dân sự liên quan đến vấn đề vi phạm an ninh thông tin, làm mất uy tín của tổ chức.

Lúc này, tổ chức thường sẽ thuê một chuyên gia tư vấn, người sẽ nói với CEO và hội đồng quản trị rằng họ cần một chính sách an ninh cho tổ chức cùng với một cuộc đánh giá bảo mật mạng lưới (network assessment). Tổ chức thường sẽ chấp nhận và trả tiền cho hai dịch vụ này, sau đó họ tin rằng lúc này họ đã được an toàn 100% ! Tuy nhiên, đây là một nhận định hết sức sai lầm về vấn đề an toàn của tổ chức, bởi vì họ vẫn chưa có một chương trình an ninh tổng thể.

Kịch bản 2:
Sau khi thực hiện xong kịch bản 1, thường tổ chức sẽ bắt đầu thuê một chuyên gia bảo mật, thường phụ trách vị trí giám đốc an ninh thông tin (CISO hoặc CSO). Người quản lý cấp cao (Senior Management) thuê ông chuyên gia này để ông ấy có thể đại diện cho người quản lý, chịu tất cả các trách nhiệm về vấn đề an ninh của tổ chức.

Nhưng người quản lý không trao bất kỳ quyền hạn thực tế hoặc ngân sách nào cho ông CSO cả. Trong trường hợp sự cố an ninh xảy ra, ông CSO sẽ trở thành những con chiên ngoan đạo bị đem đi hiến tế - vì có một ai đó luôn luôn cần có người khác đổ vỏ cho họ.

Lúc bấy giờ, với tư cách là một chuyên gia bảo mật, chúng ta có 3 lựa chọn để đối phó với các kịch bản phổ biến như trên :
  • Cắm đầu vào bãi cát và mong rằng tất cả mọi chuyện sẽ trôi qua nhanh chóng
  • Tiếp tục thất vọng, ngửa mặt lên trời, than thận trách phận với các vị tiên gia ở trên ấy sao không thấu hiểu lòng con
  • Phải hiểu rằng, chúng ta như một xã hội loài người thu nhỏ, đang trong những bước đầu tiên chập chững tiến hóa trong vấn đề an toàn thông tin, do đó cần phải tập trung tìm hiểu học hỏi và tiến hành thực hiện những kinh nghiệm thực tiễn mà chúng ta học được
The CISO - Giám Đốc An Ninh Thông Tin

CISO phải có một sự hiểu biết sâu sắc về quy trình kinh doanh và mục tiêu của tổ chức, sau đó với những thông tin mà CISO nắm bắt được, họ phải giao tiếp trao đổi với những người quản lý cấp cao về những rủi ro đang đe dọa tổ chức, những quy chế và yêu cầu của chính phủ mà CISO sẽ phải tuân thủ và thực hiện.

Những thông tin cần thiết cần phải được báo cáo cho người quản lý thông qua các cuộc họp và các tài liệu chi tiết. CISO cũng cần phải phát triển và cung cấp các chương trình đào tạo về nhận thức an toàn thông tin, cũng như phải tự tìm hiểu mục tiêu sứ mệnh mà tổ chức đã đề ra. CISO cũng cần phải lên một ngân sách cho những hoạt động liên quan đến vấn đền an toàn thông tin.

Ngoài ra các công việc khác mà CISO cũng phải đảm nhận như : phát triển các policies, procedures, baselines, standards và guidelines. Bằng cách phát triển và xuất bản các tài liệu này, CISO có thể duy trì nhận thức cho các quản lý cấp cao, nhân viên về các mối đe dọa và các lỗ hổng trong tổ chức. Song hành với những việc trên, CISO cũng luôn cần cập nhật các công nghệ cũng như công cụ mới mà họ có thể triển khai cho tổ chức. Đánh giá phản hồi sự cố an ninh cũng sẽ do CISO đảm nhiệm, ngoài ra còn có nhiệm vụ phát triển một chương trình tuân thủ an ninh và thiết lập các số liệu về bảo mật (security metrics).

Các kiểm toán viên có thể được sử dụng trong quá trình đánh giá, có thể dùng chính kiểm toán viên nội bộ lẫn bên ngoài. Bằng cách hoàn thành tất cả các trách nhiệm và công việc được giao, CISO sẽ có tiếng nói hơn trong việc đảm bảo an ninh cho tổ chức. CISO cũng cần phải báo cáo thông tin an ninh cho bộ phận IT, cũng như báo cáo cho các bộ phận khác trong tổ chức như bộ phận hành chính, bộ phận quản lý rủi ro & bảo hiểm, bộ phận pháp lý, các đơn vị kinh doanh và bộ phận kiểm toán nội bộ. Việc liên lạc hiệu quả và mang tính hợp tác giữa CISO với các bộ phận khác trong tổ chức sẽ giúp cho CISO đi được một chặng đường dài hướng tới việc triển khai xây dựng một chương trình bảo mật và giảm thiểu rủi ro cho tổ chức.

Security Framework – Nền Tảng An Ninh


Control Objectives for Information and related Technology (CobiT) là một mô hình quản lý CNTT, tập hợp các kinh nghiệm thực tiễn được phát triển bởi Information Systems Audit and Control Association (ISACA)IT Governace Institute (ITGI).

Nhiệm vụ chính của COBIT là xác định mục tiêu cho các cơ chế kiểm soát cần sử dụng để quản lý CNTT đúng cách và đảm bảo liên kết giữa mục tiêu CNTT và mục tiêu kinh doanh.

COBIT chia thành bốn lĩnh vực chính : Kế hoạch và Tổ chức, Thu thập và Triển khai, Cung cấp và Hỗ trợ, Giám sát và Đánh giá. Mỗi lĩnh vực còn có những phân loại nhỏ bên dưới. Ví dụ, lĩnh vực Thu thập và triển khai chứa các phân loại nhỏ sau :

Acquire and Maintain Application Software: Thu thập và bảo trì Phần Mềm Ứng Dụng
Acquire and Maintain Technology Infrastructure: Thu thập và bảo trì Cơ Sở Hạ Tầng CNTT
Develop and Maintain Procedures: Phát triển và duy trì các thủ tục
Install and Accredit Systems: Triển khai cài đặt và công nhận các hệ thống

Manage Changes: Quản lý các thay đổi

Lĩnh vực này của COBIT cung cấp các hướng dẫn và mục đích cho tổ chức khi mua, cài đặt, kiểm tra, xác nhận và công nhận các sản phẩm CNTT. Điều này thật sự vô cùng cần thiết bởi vì hầu hết các tổ chức sử dụng một cách tiếp cận đặc biệt, không chính thức khi mua hàng và làm thủ tục.

COBIT đưa ra các tóm lược điều hành, các hướng dẫn quản lý, các cơ cấu, các mục đích kiểm soát, bộ công cụ triển khai và hướng dẫn kiểm toán. Một phần lớn việc tuân thủ chính sách và kiểm toán được xây dựng dựa trên nền tảng COBIT. Vì vậy nếu chúng ta muốn làm cho người kiểm toán của chúng ta hạnh phúc, không có gì hơn việc chúng ta nên học, thực hành và thực hiện các mục tiêu kiểm soát cho thật tốt !

Những người mới tìm hiểu về COBIT thật sự bị khủng bố tinh thần vì nó, bởi vì nó quá lớn và trên thực tế không thể nào thực hiện đầy đủ tất cả những mục tiêu kiểm soát trong đó trong một khoảng thời gian dài 24 tháng.

Dưới mỗi lĩnh vực cung cấp, COBIT cung cấp những thứ như : control objectives, control practices, các chỉ số mục tiêu (goal indicators), các chỉ số hiệu suất (goal performance), các yếu tố thành công, các mô hình tối ưu (maturity models). Nó đưa ra một lộ trình hoàn chỉnh có thể theo đó để thực hiện từng mục tiêu kiểm soát trong 34 mục tiêu nằm trong COBIT.
 
untitled-(1).JPG
Hình 3-5 minh họa về cách mà COBIT Framework kết nối với yêu cầu kinh doanh, nguồn lực CNTT và quy trình CNTT. Nhiều kiểm toán viên hệ thống thông tin (IS) sử dụng nền tảng COBIT làm tiêu chí để xác định tính hiệu quả của việc kiểm soát đã được triển khai trong tổ chức

COBIT bắt nguồn từ COSO Framework, được phát triển bởi (COSO) thuộc ủy ban Treadway năm 1985, nhằm mục đích đối phó với các hoạt động gian lận tài chính. COSO Framework được tạo thành từ các thành phần sau :

Control environment - Kiểm soát môi trường làm việc

- Triết lý quản lý và phong cách điều hành
- Văn hóa công ty liên quan đến việc gian lận vào đạo đức

Risk assessment - Đánh giá rủi ro

- Xây dựng mục tiêu các rủi ro
- Quản lý việc thay đổi của nội bộ lẫn bên ngoài

Control activities - Kiểm soát hoạt động
- Policies, procedures được triển khai để giảm thiểu rủi ro

Information and Communication

- Cơ cấu tổ chức phải đảm bảo rằng nhân viên phải nhận được ngay thông tin khi cần thiết

Monitoring
- Phát hiện và phản ứng với các kiểm soát sai sót

COSO là một mô hình quản trị tổ chức và COBIT là một mô hình quản trị CNTT. COSO liên quan nhiều ở cấp độ Strategic, trong khi COBIT tập trung nhiều vào cấp độ Operational. Chúng ta có thể nghĩ rằng COBIT như một cách để đáp ứng nhiều mục tiêu của COSO, nhưng chỉ ở góc độ CNTT. Mặc dù COSO cũng có các chỉ mục không liên quan đến CNTT, như là văn hóa công ty, nguyên tắc kế toán tài chính, trách nhiệm chủ tịch hội đồng quản trị, và các cấu trúc truyền thông nội bộ.

COSO được tạo ra để cung cấp hỗ trợ cho Ủy Ban Quốc Gia về Gian Lận Báo Cáo Tài Chính (National Commission on Fraudulent Financial Reporting), một tổ chức nghiên cứu các báo cáo gian lận tài chính và những thành phần liên quan đến chúng.

Phát triển và ra mắt một chương trình bảo mật đối với các tổ chức điều đó không khó, nhưng nó thật sự mới mẻ đối với họ, và những điều mới thì thường đáng sợ và khó hiểu. Đây là lý do tại sao họ cần các tiêu chuẩn và những kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất, cung cấp hướng dẫn và công thức cho cách thiếp lập và thực hiện một chương trình bảo mật tổng thể.

The British Standard (Các tiêu chuẩn Anh Quốc) chia ra làm hai phần:

BS7799 Part 1, vạch ra mục tiêu kiểm soát và hàng loạt các kiểm soát có thể được sử dụng để đáp ứng những mục tiêu đó.

BS7799 Part 2, chỉ ra cách làm thế nào để thiết lập một chương trình bảo mật và duy trì nó. BS7799 Part 2 cũng là cơ sở chứng nhận tổ chức được bảo đảm an ninh ở một mức độ nhất định, có thể chống lại các cuộc tấn công của tin tặc.

Một tổ chức sẽ cố gắng đạt được chứng nhận ISO 17799 nhằm mục đích tăng sự tin cậy của khách hàng và đối tác, có thể xem như là một công cụ marketing khi đạt được ISO 17799. Để được chứng nhận, cần có một bên thứ 3 được ủy quyền để đánh giá tổ chức trước những yêu cầu trong ISO 17799 Part 2.

Đã có rất nhiều tranh cãi về những lợi ích và hạn chế của ISO 17799, chúng ta đã dùng nó để mô tả về các quy trình bảo mật và các tiêu chuẩn nhằm mục đích chỉ ra đây là một "cơ sở hạ tầng chính xác". Nó cũng được tạo thành 10 lĩnh vực, rất gần gũi với CISSP CBK.

Chúng ta đã chuyển những thứ rối rắm trong ISO 17799 thành một danh sách các tiêu chuẩn ISO mới, nhằm mục đích giúp cho chúng ta dễ hiểu hơn và phân chia rõ ràng từng loại một, hoặc có thể sự chuyển hóa này đôi khi lại gây ra sự nhầm lẫn và làm cho chúng ta tức giận ! Đôi khi nỗ lực đơn giản hóa vấn đề có thể gây ra nhẫm lần.

Các tiêu chuẩn ISO rất gọn gàng và ngăn nắp. Nó sử dụng những con số để đại diện cho các loại hình cụ thể của tiêu chuẩn. Ví dụ, ISO 9000 series bao gồm hàng loạt các tiêu chuẩn nhằm giải quyết vấn đề kiểm soát chất lượng trong quá trình kinh doanh.

Một loạt các tiêu chuẩn mới ra đời, ISO/IEC 27000 được sử dụng để giải quyết các vấn đề khuyến nghị, tiêu chuẩn đảm bảo an toàn thông tin, đại tu và thay đổi con số để thay thế ISO 17799. Sau đây là một loạt các tiêu chuẩn ISO/IEC được sử dụng cho các tổ chức khi phát triển chương trình bảo mật :

• ISO/IEC 27001 dựa trên tiêu chuẩn BS7799 Part 2, triển khai thực hiện, kiểm soát và cải thiện Hệ Thống Quản Lý An Toàn Thông (ISMS)
• ISO/IEC 27002 dựa trên tiêu chuẩn BS7799 Part 1, những hướng dẫn thực hành tốt nhất về ISMS.
• ISO/IEC 27004 một tiêu chuẩn về đo lường quản lý an toàn thông tin
• ISO/IEC 27005 được thiết kế để hỗ trợ cho việc quản lý rủi ro an toàn thông tin
• ISO/IEC 27006 hướng dẫn về quy trình cấp phát chứng nhận
• ISO/IEC 27799 hướng dẫn minh họa làm thế nào để bảo vệ thông tin cá nhân

Đọc đến đây có lẽ khá nhiều người cũng thắc mắc, sự khác nhau giữa ISO 27001 và ISO 27002 là gì?

ISO 27002 không được chứng nhận vì nó không phải là một tiêu chuẩn quản lý như ISO 27001. Một tiêu chuẩn quản lý có nghĩa là gì ? Nó định nghĩa về việc "làm thế nào để vận hành một hệ thống thật tối ưu, chính xác", trong trường hợp của ISO 27001, nó định nghĩa "làm thế nào để vận hành hệ thống quản lý an toàn thông tin". Do đó, ISO 27001 được quyền cấp chứng nhận.

Ngoài ra, ISO 27001 & 27002 còn khác nhau ở mức độ chi tiết, ISO 27002 giải thích một chỉ mục thật chi tiết cỡ 1 trang giấy, còn ISO 27001 chỉ giải thích ngắn gọn bằng một câu duy nhất. Thêm câu hỏi nữa được đặt ra, tại sao để hai tiêu chuẩn này tồn tại tách biệt, tại sao không tích hợp chúng lại với nhau, mang tất cả ưu điểm của cả hai chuẩn . Câu trả lời là do tính tiện dụng - nếu cả hai hợp thành một tiêu chuẩn duy nhất, nó sẽ quá phức tạp và quá lớn để áp dụng vào thực tế.

Nếu bạn muốn xây dựng nền tảng an toàn thông tin cho tổ chức của bạn và đưa nó trở thành một cơ cấu, bạn nên sử dụng ISO 27001.

Nếu bạn muốn triển khai thực hành các việc kiểm soát, bạn nên sử dụng ISO 27002.

Người ta ví ISO 27001 mang tầm vóc "chiến lược" - ISO 27002 là "những bước hành động"

Tôi cảm thấy rằng nó dễ hiểu hơn so với các tiêu chuẩn cũ ISO 17799 trước đây. Tiếp theo là các lĩnh vực trong ISO 27002 :

Information Security Policy for the Organization - Chính sách an toàn thông tin cho tổ chức: Các mục tiêu kinh doanh với bảo mật, sự hỗ trợ của quản lý, các mục tiêu về bảo mật và các trách nhiệm.

Creation of Information Security Infrastructure - Cấu thành cơ sở hạ tầng an toàn thông tin: Tạo ra và duy trì một cấu trúc an toàn thông tin tổ chức thông qua chuyên gia bảo mật, xác định trách nhiệm bảo mật, quy trình ủy quyền, outsourcing và đánh giá độc lập.

Asset Classification and Control - Phân loại và kiểm soát tài sản: Phát triển cơ sở hạ tầng an toàn thông tin để bảo vệ tài sản của tổ chức thông qua việc giải trình trách nhiệm, kiểm kê, phân loại và các thủ tục xử lý.

Personnel Security - An ninh đối với nhân viên: Giảm bớt rủi ro bởi con người thông qua việc sàng lọc nhân viên, xác định vai trò và trách nhiệm, đào tạo nhân viên đúng cách.

Physical and Environmental Security - An ninh môi trường và vật lý: Bảo vệ tài sản của tổ chức bằng nhiều cách như chọn vị trí hợp lý, xây dựng và duy trì một vành đai bảo vệ an ninh, thực hiện kiểm soát truy cập và bảo vệ các trang thiết bị.

Communications and Operations Management - Quản lý các hoạt động và truyền thông: Thực hiện các hoạt động bảo mật thông quan các thủ tục, kiểm soát sự thay đổi thông tin, xử lý sự cố, phân chia nhiệm vụ, lập kế hoạch về năng suất, quản trị mạng và xử lý thông tin truyền thông.

Access Control - Kiểm soát truy cập: Kiểm soát quyền truy cập vào các tài sản dựa trên yêu cầu kinh doanh, quản trị người dùng, phương pháp xác thực và theo dõi.

System Development and Maintenance: Triển khai thực hiện bảo mật trong tất cả các giai đoạn lifetime của hệ thống, thông qua việc phát triển các yêu cầu về an ninh, mã hóa, tính toàn vẹn và các thủ tục chính sách phát triển phần mềm.

Business Continuity Management - Quản lý tính liên tục trong Kinh Doanh: Chống lại việc gián đoạn các hoạt động trong kinh doanh bằng cách lập kế hoạch phương án hoạt động "liên tục" và thử nghiệm phương án đó.

Compliance - Tuân thủ: Tuân thủ các quy định, hợp đồng và yêu cầu của pháp luật bằng cách sử dụng phương pháp kiểm soát kỹ thuật (technical controls), kiểm toán hệ thống, nhận thức về pháp luật

Chú ý: Kỳ thi CISSP có thể không cập nhật kịp tốc độ thay đổi của ngành công nghiệp an ninh. Điều quan trọng là bạn hiểu được các tiêu chuẩn như BS7799, ISO 17799 và ISO/IEC 27000 series. Bạn nên tìm hiểu mục đích chung của các tiêu chuẩn qua từng thế hệ, nhất là chú ý tập trung vào ISO/IEC 27000 series vì nó là thế hệ tiêu chuẩn mới nhất.

Confusion and Security - Sự nhầm lẫn & Bảo mật


Ngày nay, nhiều tổ chức vẫn chưa có chuyên gia về an toàn thông tin chịu trách nhiệm triển khai các giải pháp và chương trình an ninh. Nếu không có một sự giáo dục và đào tạo thích hợp về các vấn đề bảo mật, tổ chức sẽ chỉ phí lãng phí thời gian và tiền bạc mà không mang lại một kết quả tốt đẹp gì cả.
untitled-(2).JPG

COBIT và COSO cung cấp “những gì chúng ta cần phải đạt” chứ không phải “làm thế nào để đạt được nó.” đây là mục đích của ITIL và các tiêu chuẩn ISO/IEC 27000 series.

The Information Technology Infrastructure Library (ITIL) – Thư viện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trên thực tế là tiêu chuẩn hướng dẫn thực hành tốt nhất cho việc quản lý dịch vụ CNTT. ITIL đã được tạo ra bởi sự tăng trưởng mức độ phụ thuộc vào CNTT nhằm đáp ứng nhu cầu trong kinh doanh.

Đáng tiếc, luôn có sự phân chia ranh giới giữa những người làm việc kinh doanh và những người làm CNTT trong tổ chức, bởi vì họ sử dụng "thuật ngữ" khác nhau, có những mục tiêu khác nhau, dẫn đến việc thiếu một tiếng nói chung giữa hai bên. Việc thiếu một ngôn ngữ chung, thiếu sự hiểu biết về những lĩnh vực của cả hai phía, đã đem đến cho nhiều tổ chức kết quả không mấy tốt đẹp khi muốn dung hòa giữa mục tiêu kinh doanh và sự hỗ trợ của CNTT, thường tạo ra sự rắc rối, tăng chi phí và thời gian làm việc, bỏ lỡ mất những cơ hội trong kinh doanh, gây mất đoàn kết giữa hai phía, thất bại về mặt kinh doanh lẫn kỹ thuật khi dung hòa không hợp lý.

ITIL là một framework được cung cấp dưới dạng sách hoặc truy xuất trực tuyến. Nó cung cấp các mục tiêu, các hoạt động tổng thể cần thiết để đạt được những mục tiêu đó, các giá trị Input/Output cho mỗi quá trình cần thiết để đáp ứng các mục tiêu đã được xác định. Trong trường hợp COBIT xác định mục tiêu CNTT, ITIL cung cấp từng bước hướng dẫn ở mức độ quá trình "làm thế nào để đạt được những điều đó ?" .

Mặc dù ITIL có phần liên quan đến vấn đề bảo mật, nhưng nó tập trung chủ yếu vào việc thỏa thuận mức độ cung cấp dịch vụ giữa phòng CNTT và "customers". "Customer" ở đây thường là các phòng ban nội bộ trong tổ chức.

Chú ý: Những tên gọi đầy đủ cho các bộ tiêu chuẩn ISO thường là ISO/IEC với những con số đi theo phía sau (ISO/IEC 27001:2005) . IEC là International Electrotechnical Commission - Ủy Ban Điện Tử Quốc Tế, cùng làm việc với ISO để tạo ra các bộ tiêu chuẩn toàn cầu. Trong ngành bảo mật và trong kỳ thi CISSP, chúng ta có thể thấy các tiêu chuẩn được trình bày có hoặc không có "IEC", nhưng chúng vẫn tương tự như nhau, có thể sử dụng chỉ mỗi từ "ISO" nhằm mục đích viết tắt, không có gì khác biệt.

Security Governance - Quản trị An Toàn Thông Tin

Chúng ta đã có quản trị an toàn thông tin (hay quản trị an ninh), bởi vì tôi đã đề cập đến nó và tôi đã viết nó vào Điều Lệ của tổ chức rồi mà. Vậy bây giờ, quản trị an ninh là gì nữa đây?

Quản trị an ninh cũng tương tự quản trị doanh nghiệp và quản trị CNTT, vì sự liên đới giữa các chức năng và mục tiêu của cả ba. Ba thứ quản lý này đều làm việc chung trong một cơ cấu tổ chức, có cùng một mục tiêu giống nhau là đảm bảo cho tổ chức tồn tại và phát triển mạnh, khác nhau ở chỗ mỗi thứ quản lý có những trọng tâm vấn đề riêng biệt.

Cũng giống như nhu cầu của việc quản trị doanh nghiệp tăng vượt bậc do các quy định và luật pháp, sự cần thiết và mức độ tăng trưởng của quản lý an ninh cũng như thế, đó là tín hiệu rất tốt, giống như việc tăng trưởng thị phần toàn cầu, chúng ta phải tuân thủ pháp luật và tập quán ở các quốc gia mà chúng ta đang tiến hành kinh doanh.

Nhiều hội đồng quản trị của các tổ chức cũng đã có trách nhiệm hơn về việc quản lý hiệu suất kinh doanh, nhận thức về sự cần thiết của quản lý an toàn thông tin đã được nâng cao, ngày càng được đánh giá có một vị trí quan trọng trong suy nghĩ của hội đồng quản trị, trong việc đảm bảo các cơ chế thích hợp được đặt ra để cung cấp cho hội đồng quản trị, các nhà quản lý, sự giám sát thích hợp để quản lý những rủi ro đối với tổ chức và hạn chế thiệt hại tiềm năng.

Nhiều định nghĩa chuyên nghiệp về Governance, chẳng hạn những điều sau được định nghĩa bởi IT Governance Institue tại cuộc họp báo của Hội Đồng Quản Trị CNTT lần 2 :

Governance - Quản trị nghĩa là tập hợp tất cả các trách nhiệm và các kinh nghiệm thực tiễn được thực hiện bởi Ban điều hành và các quản lý với mục tiêu cung cấp các đường lối chiến lược, đảm bảo việc hoàn thành các mục tiêu được đề ra, xác định được các rủi ro để quản lý một cách thích hợp, và xác minh nguồn tài nguyên của tổ chức được sử dụng một cách hợp lý.
Định nghĩa này hoàn toàn chính xác, nhưng nó vẫn còn ở mức độ cao và khá khó khăn cho chúng ta khi muốn hiểu trọn vẹn và biết cách làm thế nào để thực hiện chúng.

Security Governance - Quản trị an ninh bao gồm tất cả những công cụ, con người, và những quy trình kinh doanh cần thiết để đảm bảo an ninh được triển khai thực hiện, đáp ứng đúng nhu cầu của tổ chức. Nó đòi hỏi cơ cấu tổ chức, vai trò và trách nhiệm, đo đạt hiệu năng, định nghĩa công việc và cơ chế giám sát. Định nghĩa này có vẻ dễ hiểu hơn nhiều so với định nghĩa phía trên, đúng không ?

Hãy làm một so sánh giữa hai tổ chức. Tổ chức A có một chương trình quản trị an ninh hiệu quả, còn tổ chức B thì không.

Bây giờ, nhìn bằng mắt có thể thấy mặc dù tổ chức A và tổ chức B đều bình đẳng trong vấn đề thực tiễn an ninh, vì họ đều có security policies, procedures, standards, các công nghệ an ninh giống nhau (firewalls, IDS, Authentication..), và một đội ngũ an ninh được điều hành bởi một chuyên gia an toàn thông tin.

Có thể bạn sẽ nghĩ rằng "Hai tổ chức này đều có phát triển về chương trình an ninh mà". Nhưng, nhìn kỹ hơn, nhìn gần hơn chút, bạn sẽ thấy một số khác biệt quan trọng, ở bảng sau :
 
Tổ chức A Tổ chức B
Hội đồng thành viên hiểu rằng an toàn thông tin rất quan trọng đối với tổ chức và đòi hỏi sự cập nhật hàng quý về hiệu suất an ninh và các vi phạm an ninh trong tổ chức Hội đồng thành viên không hiểu về sự quan trọng của an toàn thông tin đối với tổ chức, mà chỉ chú trọng đến quản trị doanh nghiệp và lợi nhuận.
CEO, CFO, CIO, quản lý các đơn vị kinh doanh đều tham gia vào hội đồng quản lý rủi ro và có cuộc họp hàng tháng, an toàn thông tin luôn là một chủ đề chính trong chương trình nghị sự cần xem xét. CEO, CFO, quản lý các đơn vị kinh doanh cảm thấy an toàn thông tin là trách nhiệm của CIO, CISO, bộ phận IT, vì thế cho nên họ không cần phải tham gia vào nghị sự.
Người quản lý điều hành thiết lập một mức độ rủi ro chấp nhận được, đó là cơ sở cho chính sách an ninh và các hoạt động an ninh của tổ chức. CISO soạn một số chính sách an toàn thông tin, đưa tên công ty vào chính sách và đưa cho CEO ký.
Người quản lý điều hành, nắm giữ các vị trí quản lý kinh doanh phải chịu trách nhiệm về các hoạt động quản lý rủi ro cho đơn vị của họ. Tất cả các hoạt động an ninh đều do bộ phân an ninh phụ trách, vì thế các hoạt động an ninh không được tích hợp vào toàn bộ tổ chức, mà chỉ phụ thuộc vào mỗi bộ phận an ninh.
Điều quan trọng trong quy trình kinh doanh là ghi chép lại tài liệu và đánh giá rủi ro từng bước khác nhau trong quá trình kinh doanh Quy trình kinh doanh không được ghi chép lại thông tin và không được phân tích rủi ro tiềm tàng, điều đó có thể gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động, năng suất và lợi nhuận của tổ chức
Nhân viên đều phải chịu trách nhiệm với bất kỳ vi phạm an ninh mà họ gây ra, dù vô tình hay là cố tình. Policies và Standards đã được phát triển, nhưng không bị bắt buộc phải tuân theo.
Các sản phẩm bảo mật, các dịch vụ quản trị và các chuyên gia tư vấn khi thuê hoặc mua đều phải báo cáo với hội đồng thành viên. Họ cũng thường xuyên xem xét để đảm bảo chi phí hiệu quả cho nhu cầu an ninh. Các sản phẩm bảo mật, các dịch vụ quản trị và các chuyên gia tư vấn khi thuê, mua mà không có bất kỳ sự nghiên cứu thực tế, hoặc số liệu về hiệu suất nào cả, làm cho việc đầu tư về vấn đề an ninh không đem lại hiệu quả, chỉ phí tiền của tổ chức.
Tổ chức vẫn thường xuyên rà soát lại chương trình an ninh, với mục đích không ngừng cải tiến chất lượng của chương trình. Tổ chức không phân tích hiệu suất của chương trình an ninh để cải thiện nó, mà cứ phát triển tiến về phía trước liên tục, làm cho những sai lầm, ngày càng sai lầm hơn.

Vậy tổ chức mà bạn đang làm giống tổ chức A hay tổ chức B ? Hầu hết các tổ chức ngày nay có rất nhiều thành phần và các bộ phận cho một Security Program (policies, standards, firewalls, security team, IPS ...), nhưng những người quản lý không thật sự tham gia vào Security Program, và điều đó đã làm cho Security không thể xuyên suốt khắp toàn bộ tổ chức được. Đáng lẽ, mỗi thành phần và mỗi bộ phận trong tổ chức cần có một nhóm nhỏ để chịu trách nhiệm về vấn đề bảo đảm an ninh xuyên suốt toàn bổ chức---nhưng đều này thật sự gần như là không thể được.

Nếu an ninh chỉ là một vấn đề mang tính công nghệ, thì nhóm an ninh chỉ cần bảo đảm triển khai, cấu hình chính xác và bảo trì sản phẩm thường xuyên, tổ chức sẽ nhận được ngôi sao vàng và vượt qua các kỳ kiểm toán hệ thống một cách dễ dàng. Nhưng đó không phải là cách hoạt động của an toàn thông tin ngày nay. An toàn thông tin mang ý nghĩa nhiều hơn là một giải pháp công nghệ. Các chuyên gia bảo mật cần hiểu điều này: vấn đề an ninh phải xuyên suốt toàn bộ tổ chức, có một số điểm như vai trò trách nhiệm và trách nhiệm giải trình là điều rất quan trọng.

Quản trị an ninh là một hệ thống có tính liên kết chặt chẽ của việc hợp nhất các thành phần bảo mật lại với nhau (sản phẩm, nhân sự, đào tạo, quy trình, chính sách, etc...) chúng tồn tại để đảm bảo tổ chức tồn tại.

Security Program Development - Phát triển chương trình an ninh cho tổ chức

Điều quan trọng cần phải hiểu, Security Program luôn có một lifecycle mang tính liên tục, vì lẽ đó nó cần phải thường xuyên được đánh giá và cải tiến cho tốt hơn.

Lifecycle của bất kỳ quy trình nào cũng có thể được mô tả bằng nhiều cách khác nhau. Chúng ta sẽ sử dụng các bước sau :

1. Plan and organize: Lên kế hoạch và tổ chức
2. Implement: Triển khai thực hiện
3. Operate and maintain: Vận hành và bảo trì
4. Monitor and evaluate: Giám sát và đánh giá

Nhiều tổ chức không tuân theo phương pháp tiếp cận Lifecycle trong khi phát triển, triển khai và bảo trì security management program của họ. Điều này bởi vì có thể họ không biết, hoặc họ cảm thấy phương pháp tiếp cận này cồng kềnh, lãng phí thời gian.

Kết quả của việc không tuân theo một cấu trúc Lifecycle thường dẫn đến những thứ sau :

• Viết policies và procedures mà không được ánh xạ và hỗ trợ bởi các hoạt động an ninh (Ví dụ viết policies cấm truy cập những Website blacklist, nhưng không có cơ chế để thi hành luật cấm đó !)

• Gây sự hiểu lầm giữa những cá nhân trong tổ chức với những người đang cố gắng thực thi nhiệm vụ bảo vệ tài sản

• Không có cách nào để đánh giá tiến độ và hoàn trả vốn đầu tư của chi phí và tài nguyên đã bỏ ra

• Không có cách nào để hiểu rõ trọn vẹn các khuyết điểm của một Security Program và biện pháp để cải tiến nó sau khi tìm ra khuyết điểm

• Không đảm bảo tuân thủ theo quy định, luật pháp, chính sách

• Phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ cho tất cả các giải pháp bảo mật

• Một "tác phẩm chấp vá", không phải một security program toàn diện

• Một phương pháp "la làng" khi có bất kỳ sự cố an ninh xảy ra, thay vì cách tiếp cận bình tĩnh chủ động

• Nhận thức sai lầm về vấn đề bảo mật, gây nên biết bao nhiêu sự nhầm lẫn tai hại

Nếu không thiết lập phương pháp tiếp cận Lifecycle cho Security Program và Security Management để duy trì chương trình, tổ chức sẽ phải cam chịu việc bảo mật chỉ giống như những dự án khác. Bất kỳ điều gì khi được xem là một dự án cũng sẽ có ngày bắt đầu và ngày kết thúc, khi tới ngày kết thúc tất cả mọi người sẽ giải tán để đi làm dự án khác.

Nhiều tổ chức cũng đã có những ý định tốt đẹp trong những ngày đầu kiến tạo Security Program, nhưng đã không thực hiện được một cơ cấu hợp lý để đảm bảo việc quản lý an ninh như là một quy trình mang tính liên tục, không ngừng cải tiến. Kết quả đã rất nhiều lần Start rồi Stop chương trình, lặp đi lặp lại làm cho lãng phí tiền bạc, công sức, hiệu quả thì ngày càng giảm dần.

Các thành phần chính của từng giai đoạn Lifecycle security program được cung cấp dưới đây :

1. Plan & Organize : Lên kế hoạch và tổ chức

• Thiết lập một cam kết quản lý
• Thành lập ban chỉ đạo giám sát
• Đánh giá các nhu cầu kinh doanh
• Thực hiện một hồ sơ thu thập các mối đe dọa đối với tổ chức
• Thực hiện đánh giá rủi ro
• Xây dựng kiến trúc an ninh theo tổ chức, theo sự ứng dụng, theo mạng lưới điện toán và theo các cấp độ của từng thành phần
• Xác định các giải pháp cho mỗi cấp độ kiến trúc
• Xin quản lý phê duyệt để tiếp tục tiến hành giai đoạn tiếp theo.

2. Implement : Triển khai thực hiện

• Phân công vai trò và trách nhiệm
• Xây dựng và phát triển security policies, procedures, standards, baselines, guidelines.
• Xác định dữ liệu nhạy cảm khi trung chuyển (in transit) và dữ liệu thanh lý (at rest : dữ liệu không còn sử dụng nữa, nằm trong các phương tiện lưu trữ chờ thanh lý)
• Triển khai thực hiện các đồ án (blueprints) sau đây :
  • Xác định và quản lý tài sản
  • Quản lý rủi ro
  • Quản lý Vulnerability (lỗ hổng an ninh dễ tổn thương)
  • Quản lý việc tuân thủ chính sách
  • Xác định quản lý và kiểm soát truy cập
  • Kiểm soát thay đổi
  • Lifecycle phát triển phần mềm
  • Lập kế hoạch kinh doanh liên tục không gián đoạn (business continuity)
  • Nâng cao nhận thức và đào tạo
  • An ninh vật lý
  • Phản hồi sự cố (Incident response)
• Triển khai các giải pháp (administrative, technical, physical) cho từng đồ án.
• Xây dựng cơ chế kiểm toán và giám sát các giải pháp cho từng đồ án.
• Thiết lập mục tiêu, các thỏa thuận cấp độ dịch vụ (SLAs), và các số liệu cho từng đồ án.

3. Operate and maintain : Vận hành và bảo trì


• Thực hiện theo các procedures (thủ tục) đã đề ra để đảm bảo tất cả các baselines (thông số chuẩn) đều được đáp ứng khi triển khai từng đồ án.
• Thực hiện kiểm toán internal và external.
• Thực hiện các công việc đã đề ra trong từng đồ án
• Quản lý thỏa thuận mức độ dịch vụ SLA trong từng đồ án

4. Monitor and evaluate : Giám sát và đánh giá

• Xem lại logs, kết quả kiểm toán, thu thập số liệu giá trị và SLAs của từng đồ án
• Thẩm định các mục tiêu thành tích của từng đồ án
• Thực hiện các cuộc họp báo cáo hàng với quý với ban chỉ đạo
• Phát triển các bước cải tiến và tích hợp vào giai đoạn Plan & Organize

Rất nhiều chỉ mục đề cập trong danh sách trên được bao phủ xuyên suốt toàn bộ cuốn sách CISSP này. Danh sách này nhằm cung cấp toàn bộ thông tin làm thế nào để triển khai tất cả các chỉ mục theo một cách tuần tự và có sự kiểm soát chặt chẽ.

Thông tin tham khảo :

1.http://en.wikipedia.org/wiki/Security_through_obscurity
2.http://en.wikipedia.org/wiki/Kerckhoffs's_Principle
3.http://home.earthlink.net/~bmgei/educate/docs/fperson/clasdocs/transhtm/phtran8.htm
4.http://www.trainning.com.br/download/COBIT_41.pdf
5.http://www.helium.com/items/1959893-iso-27001-iso-27002
6. Shon Harris CISSP All-in-One

Nguyễn Phước Đức – DNA